Cội nguồn tư tưởng của cách mạng Mỹ

Tác giả:Bernard Bailyn
Nội dung tóm tắt:


“The Ideological Origins of the American Revolution
 của Bernard Bailyn là tác phẩm nghiên cứu kinh điển về môi trường trí tuệ, tạo điều kiện hình thành nền móng tư tưởng của nước Mỹ - dự án tham vọng nhất và cũng thành công nhất trong việc tạo lập một nhà nước dựa trên những tư tưởng chính trị mới chứ không dựa trên truyền thống và hình mẫu của các nước khác. Bằng việc phân tích ảnh hưởng của những cuộc thảo luận xã hội về giới hạn của chính quyền nhà nước đối với tiến trình lịch sử, Bailyn chỉ ra cách thức mà những tư tưởng cấp tiến về tự do cá nhân và nhà nước giới hạn có thể trở thành căn cứ cho cơ cấu chính trị sống động”.

Cách đây gần 30 năm, khi chấp bút tác phẩm viết về những cuộc tranh luận mang tính ý thức hệ của giai đọan Cách mạng Mỹ; theo một nghĩa nào đó, tôi cảm thấy như mình là một người phát minh vậy. Cùng với các đồng sự, tôi cảm thấy ngạc nhiên khi nhìn thấy bức tranh mở ra trước các nhà nghiên cứu, đấy là sau khi đã bỏ qua những từ ngữ nói về Khai sáng và chúng tôi bắt đầu suy nghĩ về những điều mà các lãnh tụ cách mạng đã nói, họ lấy đâu ra những ý tưởng như thế, những ý tưởng này đã liên kết với nhau như thế nào, và làm thế nào mà những ý tưởng này, mặc dù có nguồn gốc hải ngọai, lại giúp tư duy về những vấn khác lạ của hòan cảnh Bắc Mĩ. Những tìm tòi kiểu đó là dựa trên tiếp cận mang tính “bối cảnh” đối với lịch sử: không cần tìm trong quá khứ lịch sử những điềm báo trước của tương lai mà chú ý xem xét những chi tiết, khôi phục lại thời quá khứ như những người đương thời đã chứng kiến.

Theo quan điểm như thế, rõ ràng là tư tưởng của Cách mạng Mĩ là tập hợp những ý tưởng và quan niệm cực kì cấp tiến đối với thời đại của mình (và nếu nghĩ kĩ thì hiện nay cũng chưa mất tính cấp tiến). Lần xuất bản đầu tiên tác phẩm này có tên là Chủ nghĩa cấp tiến mang tính cải cách của Cách mạng Mĩ (The Transforming Radicalism of the American Revolution) và có một chương đặc biệt, chương 6, Ảnh hưởng truyền nhiễm của tự do (The Contagion of Liberty). Tư tưởng cách mạng dựa trên những nguồn gốc rất khác nhau, nhưng chủ yếu là xu hướng đặc thù của tư duy chính trị Anh, đấy là xu hướng tập trung vào việc bảo vệ quyền tự do của cá nhân khỏi sự xâm hại của chính quyền, khỏi sự độc tài của nhà nước. Cùng với đó, những người tuyên truyền cách mạng đồng thời cũng là tác giả của nhiều cuốn sách mỏng và ý kiến, nhưng họ không phải là các triết gia, cũng không tạo ra một tầng lớp “trí thức” đặc biệt. Đây là những chính trị gia, những thương buôn, luật sư, địa chủ và cha cố; họ không có ý liệt mình vào danh sách hậu duệ của bất kì trường phái triết lí chính trị nào, như các nhà nghiên cứu hiện đại có thể tìm thấy ảnh hưởng của trường phái đó trong các tác phẩm của họ. Họ không tự coi mình là “những người nhân đạo công dân” và tôi cũng sẽ không sử dụng thuật ngữ này. Chắc là họ lấy làm ngạc nhiên khi thấy những ý tưởng của mình lại có thể được xếp sắp khéo léo đến như thế vào sơ đồ phát triển của triết lí chính trị. Họ cho rằng bất kì chế độ nào, nhất là chế độ cộng hòa, cũng cần phải dựa vào đức hạnh, nhưng họ không tự lừa mị về đức hạnh của những người bình thường; tất cả bọn họ đều tin vào vai trò quyết định của sở hữu tư nhân và phát triển kinh tế. Họ là “những người nhân đạo công dân” và “tự do” - ở những mức độ khác nhau và hòan cảnh khác nhau. Trong những nghiên cứu được tiến hành trong thời gian gần đây người ta đã ghi nhận một cách chính xác tính năng động và biến hóa của tư tưởng của họ, nhưng những quan điểm chính thì vẫn giữ nguyên. Ngay từ đầu chúng tôi đã công nhận khả năng liên kết của những tư tưởng này, nhưng chưa đánh giá đúng mức độ mềm dẻo của chúng trước những yêu cầu mới và hòan cảnh mới. Những tính chất này chỉ hiện rõ khi chúng tôi quay sang lịch sử những năm sau cách mạng và có thể xem xét sự đụng độ của những học thuyết ban đầu với những khó khăn vừa xuất hiện.

Nhưng những vụ đụng độ này đã xảy ra trước năm 1776. Trong giai đọan đầu – đây là giai đọan mà tác phẩm này tập trung bàn tới – suy tư về những tư tưởng mà mình gắn bó và việc áp dụng chúng trên thực tế đã buộc những nhà cách mạng tương lai chú ý tới những nguy cơ cả bên trong lẫn bên ngòai. Họ rút ra kết luận rằng bằng mọi giá phải phá bỏ được hệ thống quyền lực hiện thời thì mới có thể giữ được tự do. Trong giai đọan sau cần phải tổ chức đời sống xã hội của những nhà nước nhỏ-bang cho phù hợp với những nguyên tắc tiến bộ, lúc này cần những ý tưởng và thực tiễn liên quan đến quá trình dân chủ hóa những chính phủ nhỏ. Sau đó là đến giai đọan ba, theo ý kiến của nhiều người thì đây là giai đọan phá hủy, của những quan niệm ban đầu của cách mạng: thời kì xây dựng chính quyền trung ương của cả nước, một chính quyền có khá nhiều quyền lực và đủ sức cai trị xã hội đã phân rã. Cho đến lúc đó, một chính quyền chỉ hơi giống như thế cũng chỉ có thể xuất hiện trước nhu cầu của một cuộc chiến lớn mà thôi; tập quyền mới dường như quay lại ách thống trị vừa bị lật đổ, mới nhìn thì dường như là đẩy lùi cuộc cách mạng về mặt ý hệ vừa mới hòan thành. Muốn cho điều đó không xảy ra thì cần phải tư duy lại những nguyên tắc và tín điều hướng dẫn cuộc các mạng; chỉnh sửa lại và áp dụng chúng vào những hòan cảnh mới. Cuối cùng, hóa ra là không phải là phá hủy hòan tòan chính quyền mà là xây dựng nó trên căn bản mới đã tạo điều kiện cho người ta thực hiện những mục tiêu ban đầu của cách cách mạng.

Giai đọan cuối cùng này của tư tưởng cách mạng, giai đọan thể hiện – cả trong lí thuyết lẫn thực tiễn – sự mềm dẻo của nó; đúng hơn phải nói rằng những cuộc tranh cãi kéo dài và căng thẳng được thể hiện trong phần Lời bạt được viết thêm sau này. Nếu những chương đầu tiên là để mô tả những người tham gia cách mạng thì phần lời bạt là để xem xét rất nhiều văn bản hình thành trong một năm tranh luận về Hiến pháp – những bài báo, những bức thư trao đổi, tài liệu của nhà nước và diễn văn trong hội nghị lập hiến.

Cuộc tranh luận này – tất cả các cộng đồng và những người có ý thức chính trị trong các thuộc địa cũ đều tham gia – là lời bạt cho giai đọan trước và lời nói đầu cho giai đọan sau. Nó tạo ra hệ thống chính quyền nhà nước mới, nhưng đồng thời cũng không đánh dấu sự đọan tuyệt với ý thức hệ của Mĩ trong những giai đọan trước. Sức mạnh của những quan điểm chính trị định hướng cuộc cách mạng không bị lu mờ sau khi thông qua hiến pháp. Theo tôi, hiến pháp không phải là một cuộc đảo chính, dày xéo lên chủ nghĩa lí tưởng của cách mạng nhằm bảo vệ quyền lợi của bọn cầm đầu tư sản. Bài báo thứ X của tờ Federalist không chôn vùi những quan điểm chính trị cũ và không khởi đầu môn khoa học chính trị mới. Những học thuyết ban đầu đã thích ứng với những điều kiện mới chứ không bị vất đi. Chắc chắn là Hiến pháp đề nghị thành lập một nhà nước mạnh, thuận tiện cho một số nhóm kinh tế nào đó và làm cho những người bài-federalist nhớ đến nền độc tài vừa bị lật đổ. Nhưng cùng với thời gian (sau khi thông qua Bill of Rights), đa số những người bài-federalist đã nhận ra sai lầm của mình. Những nguyên tắc cũ được giữ lại trong những hình thức mới phức tạp hơn và được thể hiện trong những định chế mới của nhà nước, nhằm bảo đảm sự tòan vẹn của di sản của cách mạng. Quyền tự do của con người khỏi nhà nước, ngay cả nhà nước đã được cải cách, là giá trị chính mà những nhà cải cách thế kỉ XVIII để lại cho chúng ta.

Lời nói đầu của tác giả (từ bản tiếng Nga)

Tác phẩm này được khởi sự cách đây mấy năm, đấy là khi ông Говард М. Джоунс, lúc đó là tổng biên tập một lọat tác phẩm gọi là John Harvard Library, đề nghị tôi chuẩn bị để in tuyển tập những cuốn sách mỏng viết về chính trị thời Cách mạng Mĩ. Như tất cả những nhà nghiên cứu về giai đọan này, tôi biết rõ khỏang vài chục bài viết nổi tiếng nhất thuộc lọai đó, tức là xứng đáng được xuất bản và còn nghĩ đến vài chục bài khác nữa. Tôi thích đề nghị này vì có vẻ như không nặng nề lắm, thêm nữa, nó cũng phù hợp với ý tưởng về một cuốn sách viết về chính trị thế kỉ XVIII mà lúc đó tôi đang viết dở. Tôi đồng ý.

Đầu tiên cần phải lập danh sách đầy đủ những tác phẩm đó. Hóa ra đây là công việc không hòan tòan đơn giản, và chỉ sau khi bắt tay vào làm tôi mới nhận thức được tầm mức của công việc mà mình khởi sự. Danh mục tác phẩm liên quan đến mâu thuẫn Anh-Mĩ được xuất bản ở các thuộc địa cho đến và kể cả năm 1776 không phải hàng chục mà là hơn 400 mục, cuối cùng tôi quyết định đọc lại 72 cuốn cả thảy. Nhưng không phải là số lượng quyết định tầm mức công việc của tôi. Các tác phẩm này thuộc rất nhiều lọai khác nhau: luận văn chính trị, tác phẩm lịch sử, những cương lĩnh chính trị khác nhau, thư từ, thơ phú; đủ lọai biện pháp tu từ và thủ thuật văn chương; nhưng tất cả những tác phẩm này đều có chung một tính chất (dù mức độ có khác nhau): chúng đều có tính chất giải thích. Chúng không chỉ tuyên bố một quan điểm nào đó mà còn giải thích quá trình hình thành và trình bày những tín điều nền tảng làm nên quan điểm đó, nói cách khác – thế giới quan, thể hiện trong những sự kiện của thời đại. Nhờ thế mà tôi không chỉ nghiên cứu được một mặt cắt cụ thể của sản phẩm in ấn mà còn – không nhiều hơn cũng không ít hơn – nghiên cứu được cội nguồn tư tưởng của cuộc Cách mạng Mĩ nữa. Cần phải nói rằng bức tranh mở ra trước mắt đã làm tôi ngạc nhiên: quang cảnh lịch sử do những cuốn sách này tạo ra khác hẳn với khung cảnh mà nhiều người vẫn nghĩ. Nhiệm vụ của tôi càng hấp dẫn hơn, bởi vì trong tâm trí của hậu thế, cuộc Cách mạng Mĩ cũng có số phận như nhiều sự kiện lịch sử quan trọng khác: người ta cho rằng nó là đương  nhiên. Giáo sư Тревор-Роупер từng viết nhân một dịp khác như sau: “Những đề xuất, giải thích, luận giải [những sự kiện lịch sử] tạo ra ý nghĩ rằng mọi sự diễn ra một cách tự nhiên và tất yếu phải như thế; chúng ta giết chết cảm giác ngạc nhiên, cảm giác trước điều không thể dự đóan được, cũng có nghĩa là cảm giác mới mẻ”. Những cuốn sách mỏng đó mở ra con đường dẫn tới hiện thực không thể dự đóan trước được của thời kì cách mạng và đặt ra trước nhà nghiên cứu những câu hỏi mới. Như vậy là, tôi coi nhiệm vụ của mình không chỉ là in lại và bình luận một số văn bản.

Nghiên cứu những cuốn sách mỏng đó củng cố trong tôi niềm tin có vẻ xưa cũ rằng cách mạng Mĩ xảy ra trước hết là do xung đột về mặt tư tưởng xung quanh những vấn đề về tổ chức chính trị và cơ cấu hiến pháp chứ không phải là cuộc đối đầu giữa những nhóm xã hội khác nhau, không phải là cố gắng của nhóm này nhằm áp đặt cho nhóm kia những cuộc cải cách trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Tôi càng tin tưởng rằng sự tiến hóa về mặt tư tưởng trong thập kỉ cuối cùng trước khi cách mạng nổ ra đã làm cho người ta suy tư rất nhiều và lí tưởng hóa kinh nghiệm của một trăm năm mươi năm trước đó của nước Mĩ và sự liên hệ mật thiết giữa cách mạng và những điều kiện của nước Mĩ đã tạo cho nó một tiềm năng cải cách cực kì to lớn. Đồng thời luận cứ trong những cuốn sách mỏng này chứa đựng những chi tiết bổ xung cho quan điểm ban đầu của tôi và tạo cho nó một viễn cảnh mới và đầy bất ngờ nữa.

Người ta thường cho rằng tư tưởng chính trị của thời đại cách mạng chỉ là trình bày một cách đơn giản triết lí của pháp quyền tự nhiên- tức là những ý tưởng về khế ước xã hội, về những quyền không thể tương nhượng, về quy luật tự nhiên và bản chất mang tính khế ước của chính phủ. Một số nhà nghiên cứu phê phán quan điểm như thế vì họ nhận thấy “tính thế tục cứng nhắc” của nó; họ gán cho những giáo lí thời đó ý nghĩa cực kì đặc biệt và khẳng định rằng chỉ vì tôn trọng dư luận thế giới mà những người lập quốc mới khóac cho luận cứ của mình “ngôn ngữ của thế kỉ duy lí”, mặc dù niềm tin vào tội tổ tông và sự cần thiết của đức hạnh không đủ giải thích được thắng lợi của cách mạng. Phía bên kia phản bác rằng giáo lí chỉ là công cụ tuyên truyền, nhắm vào những người bình thường và được một nhóm tăng lữ, không hiểu vì lí do gì mà lại gắn bó với những tư tưởng cách mạng, sử dụng một cách khéo léo mà thôi. Đồ đệ của một quan điểm nữa hòan tòan không nhìn thấy ảnh hưởng của triết học và thần học của thời Khai sáng đối với các sự kiện cách mạng; họ thích nói về phong trào bảo thủ nhằm bảo vệ luật lệ đã đứng vững và cùng với nó là những quyền tự do cổ xưa.

Có thể tìm thấy trong những cuốn sách mỏng bàn về cách mạng này tác động của cả triết lí thời Khai sáng lẫn những tư tưởng tôn giáo có tính bùng nổ và luật lệ bình thường, thậm chí là văn học cổ đại nữa; nhưng những thành phần này lại liên kết với nhau một cách đầy bất ngờ (chí ít là đối với tôi). Một truyền thống đặc biệt - tương đối tách biệt với những trào lưu tư tưởng mà chúng ta đã quen, mặc dù có liên hệ với những trào lưu này – đóng vai trò cột trụ tư tưởng. Đấy là truyền thống được những người thực dân tiếp tu trực tiếp từ những nhà báo cấp tiến người Anh đầu thế kỉ XVIII, những người này lại tiếp thu và áp dụng vào nền chính trị Anh thời Uolpol học thuyết vô chính phủ đặc thù của thời nội chiến ở Anh. Số phận của truyền thống này trên những hòn đảo nước Anh đã được xem xét trong tác phẩm Những người cộng hòa thế kỉ XVIII của Кэролин Робинс cũng như trong những trước tác viết về những khía cạnh khác nhau của lịch sử Anh thời đó: trong các tác phẩm của  Арчибальда С. Фурда viết về phe đối lập thế kỉ XVIII, của Алана Мак-Киллопа, của Бонами Добре và Луи И. Бредвольда viết về khung cảnh xã hội và chính trị của nền văn học đầu thế kỉ XVIII, của Айна Кристи, Джорджа Руде, Люси Сатерланд và С. Маккоби viết về những học thuyết cấp tiến thế kỉ XVIII. Nhưng những tìm tòi của họ dường như chưa bao giờ liên quan tới Cách mạng Mĩ. Tin vào giá trị của truyền thống này, tôi quyết định minh giải tất cả những trích dẫn trong những cuốn sách mỏng do tôi đem in và xem xét bức tranh. Kết quả là công trình nói về cội nguồn và bản chất của tư tưởng của cuộc Cách mạng Mĩ, ban đầu là dưới hình thức lời nói đầubình luận cho tuyển tập do tôi chuẩn bị và sau đó là chương 2 và chương 3 cuốn sách này.

Bối cảnh tư tưởng mà tôi xem xét tạo điều kiện cho ta nhìn lại từ ngữ mà những người cầm bút cách mạng thường sử dụng, trong khi các nhà sử học lại cho đấy là những từ ngữ tuyên truyền trống rỗng. Những từ ngôn từ mạnh mẽ như “chế độ nô lệ”, “thối rữa”, “âm mưu” - được những người viết có nguồn gốc, địa vị xã hội và tôn giáo khác nhau sử dụng – rất phù hợp với logic chung của tư tưởng đối lập và cấp tiến và hòan tòan tương thích với thời đại quân chủ, khi mà cơ cấu nhà nước “hỗn hợp” dường như còn là thành quả chưa lâu của nước Anh, còn việc sợ âm mưu chống lại chính quyền hiện thời là một thành tố tự nhiên của nền chính trị. Xuất phát từ đó, càng ngày tôi càng tin chắc rằng trước mắt chúng ta không phải là những thủ thuật tu từ đầy hiệu quả, chỉ nhằm mục đích đánh thức những người dân thường hủ lậu; ngược lại, những khái niệm này có ý nghĩa sâu sắc với chính những người cầm bút lẫn độc giả của họ và chúng phản ánh những lo lắng hòan tòan có thực. Càng ngày tôi càng nghi ngờ vào tính thích đáng của khái niệm tuyên truyền, theo cách hiểu hiện đại, khi đem áp dụng vào báo chí Cách mạng Mĩ (tôi đề  nghị xem xét riêng vấn đề này). Cuối cùng tôi rút ra kết luận là nền tảng của phong trào cách mạng trong các thuộc địa Bắc Mĩ là nỗi sợ trước âm mưu rộng khắp – âm mưu này xuất hiện là do sự tan rã – và bao trùm lên tòan bộ thế giới nói tiếng Anh, nhằm chống lại tự do. Chính những người thực dân dường như cũng chỉ coi những vụ áp chế họ là triệu chứng của một căn bệnh chung mà thôi. Vấn đề này cần được xem xét kĩ lưỡng. Nó được thảo luận trong Lời nói đầuBàn thêm về âm mưu của tuyển tập; trong tác phẩm này đấy là chương 4 và phần ngọai đề của chương này.

Bên cạnh đó, những cuốn sách mỏng này còn thể hiện những chuyển hóa của các quan điểm chính trị và xã hội diễn ra tại các thuộc địa trong những năm 1760. Hành động một cách mò mẫm và chính họ cũng không nhận thức được, đa phần là do hòan cảnh thực tế, những nhà tư tưởng-thực dân thời tiền cách mạng nghi ngờ và cải biến những khái niệm và định đề chủ yếu của lí thuyết chính trị thế kỉ XVIII. Họ đã vượt ra ngòai giới hạn của nó và đặt ra những vấn đề mới; quá trình này, bắt đầu trước năm 1776, trong cuộc trang luận về quan hệ của đế chế được thể hiện trong những bản hiến pháp đầu tiên của các bang và hiến pháp liên bang. Dĩ nhiên, đây là quá trình đáng chú ý và được thể hiện trong chương 5. Cuối cùng, có thể nhận xét rằng vụ lật nhào về mặt tư duy như thế đã có một kết hợp nhuần nhuyễn với thực tiễn ở Mĩ, không giới hạn trong lĩnh vực xung đột Anh-Mĩ. Ngược lại, nó còn tác động tới những đề tài nằm ở xa như vấn đề chế độ nô lệ, và những vấn đề tinh tế như cơ quan hệ giữa người với người. Những vấn đề này được thảo luận trong chương 6.

Tôi không đặt ra cho mình mục tiêu là phải trình bày tất cả mọi quan điểm về một vấn đề nào đó, nhưng ngay từ đầu tôi đã xem xét những ý tưởng và quan điểm chiếm thế thượng phong trong tâm trí các nhà cách mạng. Dĩ nhiên là cách mạng có kẻ thù, ở một số chỗ có bàn đến quan điểm của họ; nhưng tương lai không thuộc về họ mà thuộc về những lãnh tụ của phong trào cách mạng và chính của cuộc chuyển hóa về mặt trí tuệ của họ, diễn ra song song với  lịch sử của cuộc khởi nghĩa là đề tài của cuốn sách này của tôi. Để cho ngắn gọn, tôi sẽ gọi những nhân vật của mình là “những người thực dân”.

Thế là từng chương xuất hiện, ban đầu là Lời nói đầu của tuyển tập. Có hai ý thúc đẩy tôi tiếp tục công việc này và làm nó thành một cuốn sách. Thứ nhất, lần xuất bản đầu tiên được nhiều người yêu cầu, nhưng giá cao làm nhiều người khó tiếp cận. Thứ hai, trong quá trình làm việc sau đó về đề tài lịch sử chính trị tôi mới nhận ra rằng có nhiều nguồn tư liệu chưa được sử dụng trong Lời nói đầu; nhờ những nguồn tư liệu này mà tôi phát hiện ra một số khía cạnh mới, mang tính nguyên tắc của những vấn đề tôi đã đề cập. Trong cuốn sách có tên là Cội nguồn của nền chính trị Mĩ đã chứng minh rằng những mẫu hình tư tưởng được trình bày trong Lời nói đầu, tức là hệ tư tưởng của thời kì cách mạng, đã tồn tại trong những năm 1730 và một vài phần còn phát sinh từ trước đó, trong giai đọan chuyển tiếp của thế kỉ XVII sang thế kỉ XVIII. Truyền thống tư tưởng đối lập của Anh - sau này hình thành nên tư tưởng của cách mạng – phát triển rất nhanh ở Mĩ hồi đầu thế kỉ XVIII và do những đặc thù của nền chính trị Mĩ giai đọan đầu mà có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng của nó ở Anh. Giai đọan tiền cách mạng không tách biệt lắm với những vụ lộn xộn hồi những năm 1760-1770. Những ý tưởng, những lời khẳng định và lo lắng khác nhau trong những cuốn sách mỏng, những bức thư, bài báo và tài liệu chính trị trong những năm cách mạng cũng đã xuất hiện trước đó, trong suốt thế kỉ XVIII. Vấn đề bây giờ không phải là vì sao đã diễn ra cách mạng mà vấn đề là cái hỗn hợp chính trị và tư tưởng mang tính bùng nổ đó đã xuất hiện như thế nào, tại sao nó không đánh mất sức mạnh của mình trong những năm tháng tưởng là bình lặng đó và vì sao cuối cùng nó lại bùng nổ.

Doimoi.org

gỗ nhân tạo conwood,gỗ conwood,sàn gỗ ngoài trời,gỗ ngoại thất

máy phát điện,máy phát điện dân dụng, máy phát điện gia đình, máy phát điện nhập khẩu