|
Đây là phần thứ hai trong luận văn Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21 của Nguyễn Trung. Chúng tôi trích đăng với hy vọng giới thiệu một cách nhìn thế giới đương đại để mỗi người có thể có một tầm nhìn rộng hơn, và để từ đó xác định rõ ràng hơn trách nhiệm của mình với Tổ quốc trong bối cảnh mới của đất nước.
Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn về kinh tế cũng như về chính trị. Những thay đổi này không náo nhiệt như khi chiến tranh lạnh vừa kết thúc, song hầunhư tác động sâu sắc hơn nhiều đến mọi quốc gia. Thậm chí tại nhiều nước – kể cả Mỹ – cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay tác động trực tiếp đến từng gia đình.
Cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới đang diễn ra là vô tiền khoáng hậu. Sau một năm (9-2008 tới 9-2009) đánh vật với cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế lớn đã phải bỏ ra tổng cộng ước khoảng trên 10 nghìn tỷ USD (tương đương với 2/3 GDP của cả nước Mỹ và với 1/6 GDP toàn thế giới), đồng thời phải tiến hành nhiều liệu pháp đau đớn mang tính điều chỉnh vĩ mô và hệ thống để cứu chữa. Hiện nay cuộc khủng hoảng này được xem là đã chạm đáy; nhưng lối ra có lẽ sẽ phải mất nhiều năm. Nguy cơ lại xảy ra khủng hoảng mới ngấp nghé.
Chưa ai dám nói bao giờ và như thế nào kinh tế thế giới sẽ phục hồi và lấy lại được sự phát triển năng động đã có như trong một hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, có khá nhiều người trong giới nghiên cứu chia sẻ ý kiến:
1. Khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay là một dạng đổ vỡ của các hiện tượng kinh tế bong bóng của các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới – bắt đầu từ Mỹ, xảy ra chủ yếu do (a) sự đổ vỡ của các thị trường tiền tệ, (b) sự bất cập của các thể chế tài chính quốc gia trước sự vận động của đời sống kinh tế đang diễn ra, (c) bản thân nền kinh tế có nhiều yếu tố của khủng hoảng thừa mang thuộc tính cơ cấu; [2] thực chất đấy là cuộc khủng hoảng có tính hệ thống rất sâu sắc trên cả hai phương diện (a) bản thân cấu trúc kinh tế có những mất cân đối lớn và (b) sự phá sản của tư duy kinh tế do chủ nghĩa tân tự do chi phối; cuộc khủng hoảng này được coi là trầm trọng nhất kể từ 1929-1933, để lại nhiều hậu quả nan giải;
2. Vì đòi hỏi phải thay đổi cả cấu trúc và tư duy, nên cuộc khủng hoảng này của kinh tế thế giới mang tính chất là cuộc khủng hoảng chuyển giai đoạn phát triển (transformational crisis), các quốc gia sẽ không thể giữ nguyên cách làm ăn như lâu nay (kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc), sẽ xuất hiện những điều chỉnh vĩ mô tại nhiều quốc gia theo hướng quan tâm hơn nữa đến sự bền vững của thị trường nội địa và của môi trường;
3. Hệ thống tài chính tiền tệ thế giới đang có những xáo trộn lớn, buộc phải cải tổ cơ bản để hạn chế những rủi ro đặc biệt là trên 2 vấn đề: (1) Sự suy yếu ngày càng nhanh chóng của đồng USD và (2) vai trò đang nổi lên đầy tính lũng đoạn của đồng Nhân dân tệ (Trung Quốc);
4. Phải tăng cường hơn nữa vai trò điều tiết của nhà nước để hỗ trợ “bàn tay vô hình” của thị trường; khung khổ WTO tuy vẫn được duy trì, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cọ xát mới gay gắt hơn;
5. Phải sớm có các chính sách và biện pháp thân thiện hơn với môi trường thiên nhiên để giảm thiểu các đại họa, tại nhiều nước đã phải hướng mạnh tới nền kinh tế có hàm lượng carbon thấp...
6. Phải thay đổi nhiều điều quan trọng trong tư duy kinh tế; một số học giả nổi tiếng như Krugman, Stiglitz, Fukuyama, thượng nghị sỹ Max Baucus... cho là kinh tế học hiện đại có nhiều điểm lỗi thời. [3]
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay còn cho thấy những mặt trái hay là những vấn đề do quá trình toàn cầu hóa đặt ra – nhất là trong kinh tế ̶ mà mọi quốc gia đều phải đối mặt. [4] Cũng có thể nói cuộc khủng hoảng này đánh dấu một giai đoạn mới của quá trình toàn cầu hóa với hai đặc điểm: bảo hộ có xu hướng gia tăng, song cạnh tranh thâm nhập vào nhau cũng sẽ quyết liệt hơn.
Trong khi đó cục diện quốc tế có hai hiện tượng nổi bật nhất kết thúc thời kỳ hậu chiến tranh lạnh: (a) sự suy yếu nhanh chóng của siêu cường Mỹ, [5] và (b) vai trò ngày càng nổi lên của các cường quốc khác – trước hết là Trung Quốc, rồi đến Nga, Ấn Độ.
1. Sự suy yếu của Mỹ
Chiến tranh Iraq và chiến tranh chống khủng bố - trước hết là chống Al-Qeada - Taliban – không đem lại kết quả như Mỹ đề ra, thậm chí chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm, cùng với tình trạng từ năm 2008 Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế nặng nề nhất từ khi cuộc Đại Suy Thoái, đã khiến Mỹ phải điều chỉnh căn bản chiến lược toàn cầu của mình. Mức độ điều chỉnh gay cấn đến nỗi Singapore cho rằng Mỹ đang tạo ra khoảng trống cho Trung Quốc tung hoành ở châu Á. [6]
Để hiểu thực trạng kinh tế Mỹ trong khủng hoảng hiện nay, xin trích dẫn phân tích sau đây của Francis Fukuyama :
“ ...Chỉ riêng từ năm 2001 đến năm 2008, (trước đó không tính) hơn 5 nghìn tỷ USD tiền tiết kiệm của nước ngoài đã đổ vào nền kinh tế giàu nhất thế giới – nước Mỹ, thúc đẩy một cao trào đi vay và kích thích quá mạnh chi tiêu của các hộ gia đình cũng như các tập đoàn. Mức độ nợ liên tục gia tăng và ở mức rất cao: khi xảy ra suy thoái đầu thập kỷ 1980 tổng nợ tư nhân (hộ gia đình và các tập đoàn, công ty) mới chỉ là 123% GDP, nhưng đã vọt lên 290% GDP năm 2008. Trong khoảng thời gian này, riêng nợ của các hộ gia đình là 48% GDP đầu thập kỷ 1980 đã vọt lên tới 100% GDP vào năm 2008. Vì vậy mọi cố gắng của Quỹ dự trữ Liên bang (Fed) tung tiền ra để tăng thêm khả năng thanh toán của nước Mỹ chẳng còn mấy hiệu quả. Các hộ gia đình và các tập đoàn lâm vào tình trạng suy sụp kéo dài hơn các thời kỳ suy thoái trước. Người Mỹ bắt đầu phải học để trở thành người tiết kiệm, nhất thiết phải như vậy. Nhưng việc tỉnh táo quay trở lại với nghịch lý nổi tiếng của Keynes về sự tằn tiện lại gây ra cho nước Mỹ bệnh thiếu máu!..” (Fukuyama 2009a)
Sự điều chỉnh này của Mỹ thực chất là sự thoái lui một bước quan trọng có tính bắt buộc trong chiến lược toàn cầu so với thời George W. Bush, nguyên nhân chủ yếu là lực bất tòng tâm. Mỹ hiện vẫn là siêu cường số 1, song vai trò và ảnh hưởng của nó giảm sút đáng kể so với thời kỳ ngay sau khi chiến tranh kết thúc.
Hiện tượng Obama thắng cử không đơn thuần chỉ là một thắng lợi độc nhất vô nhị cho đến nay của thể chế dân chủ Mỹ và trên thế giới. Sâu xa hơn thế, hiện tượng Obama nói lên tầm vóc điều chỉnh chiến lược chưa từng có kể từ sau chiến tranh thế giới II mà Mỹ phải chấp nhận.
Điều đáng chú ý là so với tất cả mọi thời kỳ khác kể từ chiến tranh thế giới II kết thúc, siêu cường Mỹ trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh chiếm vị thế quốc tế cao nhất trong toàn bộ lịch sử của nó. Song chính trong thế thượng phong này của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, siêu cường Mỹ đã chịu nhiều thất bại và tổn thất nhất, đã sa sút nhanh nhất so với tất cả các thời kỳ trước đó kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới II. Nguyên nhân chủ yếu là “tham vọng và gánh nặng đế chế” quá lớn cùng với sự đổ vỡ thảm hại của chủ nghĩa tân tự do trong kinh tế. Sự thoái lui này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc phát triển “rất nóng” trên con đường trở thành siêu cường, vì thế trên thế giới đang manh nha những biến động chao đảo của quá trình hình thành một trật tự mới, nhiều quốc gia sẽ chịu tác động – trong đó có nước ta. Tình hình quyết liệt tới mức chưa bao giờ sách báo và các phương tiện truyền thông Mỹ lại đầy rẫy như hiện nay các nhận định, đánh giá về Hiện tượng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trở thành chủ nghĩa tư bản toàn trị đặc sắc Khổng giáo, về Sự giới hạn của quyền lực Mỹ, về Chiến lược toàn cầu của Washington đang hủy hoại nước Mỹ, về Triển vọng chẳng lấy gì làm sáng sủa của Obamanomics, về Sự cáo chung của đế chế Mỹ, vân vân, - và về …Thế giới trong thập kỷ tới này nghiêng về phương Đông!.[7]
Nét nổi bật của điều chỉnh chiến lược toàn cầu của nước Mỹ Obama là: Mỹ quyết rút khỏi Iraq để tập trung vào các vấn đề như mặt trận chống Al-Qaeda – Taliban tại Afghanistan, vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran, vấn đề vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên... Ngày 17-9-2009 Mỹ đi thêm một nước cờ chiến lược nữa là quyết định rút bỏ kế hoạch lá chắn tên lửa Châu Âu để tăng thêm hòa hoãn với Nga (đã được Nga hưởng ứng) và tập trung cố gắng tìm kiếm các khả năng xử lý vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran. Bước đi này còn nhằm phân hóa bớt các thế lực gây sức ép khác đối với Mỹ. Quan hệ Mỹ - Nga ấm hẳn lên cho thấy tầm vóc của quyết định 17-09-2009. Khả năng nâng quan hệ với Nga để tranh thủ thêm điều kiện đối phó với Iran đang được Mỹ tính đến. Những cải cách trong đối nội của nước Mỹ đang diễn racàng làm rõ những thay đổi trong chiến lược đối ngoại của nước này.
Có thể nói cải cách, thay đổi theo cái mới là việc diễn ra thường xuyên và liên tục năm này qua năm khác ở các nước phương Tây. Tuy nhiên những thay đổi qua cuộc khủng hoảng này thực sự là một đợt cải cách sâu rộng. Đặc biệt tại Mỹ, công việc điều chỉnh vỹ mô hiện nay có lẽ quyết liệt hơn các cường quốc phương Tây khác, được bắt đầu từ cải cách giáo dục, đổi mới việc đào tạo nguồn nhân lực, đặt lại cách nhìn về “outsourcing” (lấy nguồn từ bên ngoài) và cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế Mỹ trong tình hình mới (nhất là trước tình hình sản phẩm Trung Quốc ngày càng thôn tính thị trường Mỹ), cải cách mạnh mẽ các thể chế về tài chính, bảo hiểm y tế, về điều hành kinh tế, v... v... Nói chung là không thể phó thác cho “laissez faire” với bất kỳ giá nào của “chủ nghĩa tân tự do” như đã diễn ra trong mấy thập kỷ vừa qua. Việc Mỹ ngày 11-9-2009 quyết định áp mức thuế 35% (mức cũ là 4%) đối với lốp xe hơi nhập từ Trung Quốc, không đơn thuần chỉ là một hành động “trả miếng”, mà còn liên quan mật thiết đến việc xem lại chủ trương “outsourcing” (lấy nguồn lực từ bên ngoài) hiện nay. Tóm lại, có thể nói: Nội dung cơ bản nhất của điều chỉnh vỹ mô ở Mỹ hiện nay là chia tay với trạng thái cực đoan vừa qua của chủ nghĩa tân tự do, hướng mạnh hơn vào nền kinh tế carbon thấp, tăng cường vai trò kinh tế trong thị trường nội địa. Vì những lẽ này, gọi đấy là sự điều chỉnh mang tính hệ thống. Còn có thể nói một cách khác: Đó còn là sự điều chỉnh có nhiều dân chủ hơn.
Từ tình hình trên, có thể thấy phát biểu của Tổng thống Obama tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 23-9-2009 ''...đã đến lúc thế giới chuyển sang một hướng mới. Chúng ta phải dấn thân vào một thời đại tiếp cận mới dựa trên quyền lợi chung và cùng tôn trọng nhau...'' không đơn thuần là một lời nói ngoại giao, mà hàm ý rõ ràng kêu gọi cộng đồng các quốc gia trên thế giới nỗ lực cho một cách sống chung mới. Phát biểu này đánh đi tín hiệu khá rõ: Chính Mỹ cũng đang tìm cách ứng xử mới trong thế giới ngày nay.
Liên quan đến Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông, nhiều lần các nhà quân sự Mỹ tuyên bố (ngay từ cuối thời George W. Bush): Mỹ đứng ngoài việc tranh chấp biển đảo ở khu vực này, miễn là giữ được thông thương tự do trên eo biển Malacca, các quyền lợi của Mỹ ở khu vực này được bảo đảm, và không được đụng chạm đến Đài Loan. Có thể hiểu đây sẽ là l ằn ranh cuối cùng Mỹ sẽ có thể chấp nhận một khi tình hình đòi hỏi bắt buộc phải như vậy. [9]
Trong khi đó, tại cuộc họp ASEAN - Mỹ ngày 24-07-2009 ngoại trưởng Hillary Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với ASEAN.[11] Cũng không thể bỏ qua một thực tế khác là trong quan hệ song phương Mỹ - Trung hiện nay, phía Mỹ cũng chủ động đẩy mạnh xu thế hòa hoãn.
Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung (khai mạc tại Washington ngày 27 tháng 9 năm 2009) đã mang dáng dấp của diễn đàn G2 mà nhiều đồng minh của Mỹ không muốn. Giả định rằng trong bối cảnh nào đó (ví dụ Mỹ tiếp tục suy yếu và sa lầy, kinh tế các nước phương Tây tiếp tục đình đốn, Trung Quốc tập hợp thêm được vây cánh...) sẽ xuất hiện G2 với tính cách là yếu tố chi phối bàn cờ thế giới, tình hình sẽ rất phức tạp, các nước nhỏ yếu sẽ phải hứng chịu nhiều hệ lụy – nhất là tại khu vực Đông Nam Á. Tại “Diễn đàn chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung” này Obama nói “Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ định hình cho thế kỷ 21… Đây là trách nhiệm mà hai bên phải gánh vác.” Trong điện chúc mừng phiên họp đầu tiên của diễn đàn này, Hồ Cẩm Đào viết: “Cả Trung Quốc và Mỹ gánh vác trên vai trách nhiệm quan trọng về những vấn đề trọng đại liên quan đến hòa bình và sự phát triển của nhân loại.”[12]
Chắc chắn rồi đây lúc hòa hoãn, lúc căng thẳng, song phía Mỹ sẽ vẫn có các bước đi tiếp mở rộng quan hệ với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, bên nào cũng có thừa khôn ngoan giành cái lợi về cho mình. Như vậy có thể thấy chính sách đa dạng của Mỹ nói trên đối với khu vực Biển Đông sẽ còn tùy thuộc đáng kể vào chính thái độ các nước ASEAN (đối với Mỹ và Trung Quốc), đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của quan hệ Mỹ - Trung.
2. Sự trỗi dậy của Trung Quốc
Sự lớn mạnh của Trung Quốc như là “công xưởng của thế giới” đang thúc đẩy khát vọng của Trung Quốc đi nhanh trên con đường trở thành siêu cường vào khoảng năm 2050, mặc dù kinh tế và nội trị Trung Quốc còn rất nhiều vấn đề nhạy cảm.
Sẽ là phiến diện trong đánh giá Trung Quốc nếu bỏ qua những vấn đề nhạy cảm luôn luôn xuất hiện trong kinh tế và trong nội trị của quốc gia này. Báo chí nước ngoài nhận xét: Cái yếu nhất của Trung Quốc là Trung Quốc là nước của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, chính vì lẽ này Trung Quốc không thể trở thành siêu cường với nghĩa lãnh đạo thế giới. Thậm chí cần thấy rõ trong quá trình phát triển của nó, quốc gia này luôn luôn đứng trước không ít những vấn đề nan giải về phân hóa và bất công xã hội, về khoảng cách giàu nghèo quá lớn, nguy cơ phân rã, sự mong manh của hệ thống ngân hàng tài chính tiền tệ, những thách thức thường trực đối với hệ thống chính trị... Thực tế này giải thích tại sao Trung Quốc sẵn sàng thực hiện và có khả năng thực hiện được các biện pháp cực đoan không tưởng tượng nổi như “cách mạng văn hóa”, “sự kiện Thiên An Môn”, chính sách đối với Tân Cương và Tây Tạng... Nhạy cảm lớn nhất cũng là nguy cơ lớn nhất đối với hệ thống chính trị của Trung Quốc là vấn đề dân chủ. Tuy nhiên, cần chú ý: Trung Quốc là một thế giới riêng cho chính nó, nghĩa là trong tình hình cấp thiết, Trung Quốc có thể huy động mọi khả năng và lực lượng có thể, để chế ngự và kiểm soát tình hình nội tại với bất kỳ giá nào; Trung Quốc có thể làm tất cả mọi việc rất cực đoan với cách nghĩ “mục tiêu biện minh cho mọi biện pháp”, chấp nhận trả giá ghê gớm để giành được mục tiêu Trung Quốc muốn... Lịch sử còn chứng kiến, khi nội bộ có khó khăn hoặc cần giải quyết một yêu cầu chính trị nào đó, Trung Quốc thường hướng “ngòi nổ” ra bên ngoài, đó là lúc tiến hành cách mạng văn hoá thì giương cao ngọn cờ chống đế quốc “gió Đông thổi bạt gió Tây”; khi tiến hành cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam tháng 2-1979 thì gương cao ngọn cờ chống tiểu bá và dạy cho Việt Nam bài học…[13]
Với nguồn tài nguyên Trung Quốc đem về bằng mọi cách từ khắp nơi trên thế giới, trước hết là từ châu Phi và châu Mỹ Latinh, Úc.., với nguồn lao động khổng lồ và giá rẻ trong nước, với chính sách phát triển gần như hy sinh môi trường, Trung Quốc hiện nay đứng đầu thế giới trong sản xuất nhiều nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, đồng, nhôm, xi măng... là cường quốc thứ nhất trong xuất khẩu tàu biển, là cường quốc thứ hai sau Mỹ trong xuất khẩu ô-tô, trong vòng một vài năm tới GDP kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ vượt Nhật [14]...
Báo chí thế giới thừa nhận Trung Quốc thành công vượt xa chủ nghĩa thực dân mới của phương Tây tại châu Phi, Mỹ Latinh và một số nơi khác trên thế giới (trong đó có Đông Nam Á...). Những khoản viện trợ lớn của chính phủ Trung Quốc dành cho các quốc gia này với danh nghĩa “không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước nhận viện trợ”. Trên thực tế là Trung Quốc quan hệ trực tiếp và ủng hộ giới thống trị ở những quốc gia này, bất luận bản chất những chế độ này như thế nào. Phương thức hợp tác song phương như vậy của Trung Quốc tại những quốc gia này đang mang lại nhiều kết quả lớn cho Trung Quốc (tuy nhiên gần đây một số nước châu Phi đã phản ứng chống lại sự tham lam thái quá của Trung Quốc). Hơn thế nữa, hiện tượng Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế ngày càng quan trọng với Iran, Iraq, với các nước và lực lượng “cánh tả” (chống Mỹ) ở châu Mỹ Latinh – nơi được coi là sân sau của Mỹ đang làm cho Mỹ và phương Tây lo lắng.
Với nguồn dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (2100 tỷ USD) Trung Quốc đang tìm cách thay đổi hệ thống tiền tệ thế giới. Trước mắt Trung Quốc chưa thể “hạ bệ” đồng USD (hiện nay vẫn còn chiếm tới 60% tổng giao dịch tiền tệ và thương mại trên thế giới). Song với tư cách là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, đang nắm giữ khoảng 60% trái phiếu và những giấy tờ có giá khác của Mỹ, [15] Trung Quốc đòi hỏi đồng nhân dân tệ cũng phải được coi là phương tiện thanh toán quốc tế. Đòi hỏi này bị bác bỏ tại cuộc họp G20 (tại Luân Đôn ngày 02-04-2009) với lý do đồng nhân dân tệ chưa phải là đồng tiền chuyển đổi tự do. Trung Quốc chuyển sang chiến thuật mới là đòi nâng cao vai trò của Trung Quốc tham gia vào “quyền rút vốn đặc biệt” (SDR – một đơn vị được coi như là tiền của IMF) để làm yếu và tiến tới thay thế dần đồng USD. Đồng thời Trung Quốc áp dụng các biện pháp đòi các nước có quan hệ buôn bán với Trung Quốc trực tiếp dùng đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trong quan hệ song phương, một số nước đã chấp thuận. Có thể nói đây là một bước mới bổ sung quan trọng cho việc mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới – đặc biệt là quyền lực mềm.
Trong số hàng nghìn tập đoàn kinh tế của Trung Quốc đã có nhiều tập đoàn lọt vào danh sách các nhóm TNCs top 100, TNCs top 50của thế giới, trong đó phải kể đến tập đoàn dầu khí PetroChinacó số vốn vượt 1000 tỷ USD và trở thành TNC đứng đầu thế giới về quy mô vốn. [16]
Trên thế giới, kể cả Mỹ, không ai đặt vấn đề đối đầu với Trung Quốc. Nhưng tất cả các quốc gia đều phải cùng nhau hay riêng lẻ nỗ lực tìm cách ứng xử và đối xử thích hợp nhất với hiện tượng Trung Quốc trong thế kỷ 21 này sao cho phù hợp với xu thế tiến bộ chung của loài người. Đó còn là phương thức hữu hiệu nhất, khuyến khích hay bắt buộc Trung Quốc cũng phải thích nghi với trào lưu chung của thế giới.
.....................................................................
[2] Đặc biệt là sự thừa kế trên thị trường bất động sản, trên thị trường xe hơi và nhiều thị trường quan trọng khác đang kéo theo sự suy sụp của nhiều ngành kinh tế khác. Tình trạng nợ nần lớn của cá nhân, công ty và ngân sách quốc gia khiến cho sức mua khó hồi phục. Hơn nữa sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế bắt buộc phải lựa chọn thường gắn theo với những đổ vỡ và cái giá phải trả không thể tránh khỏi. Thậm chí có ý kiến coi đây là 4 nguyên nhân có thể làm nảy sinh khủng hoảng mới.
[3] Thậm chí có người gọi khoa kinh tế học hiện nay là “kinh tế học của đổ vỡ”, coi Alan Greenspan - nguyên chủ tịch Fed - là một trong những tội phạm chính của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay! Tuy nhiên sẽ là xuyên tạc sự thật hay ngộ nhận nực cười nếu nghĩ rằng kinh tế thế giới đang quay đầu hướng về chủ nghĩa xã hội – như một số người cố tình nhận định như vậy...
[4] Riêng tại Mỹ có rất nhiều ý kiến phân tích những yếu kém và những thiệt hại giảm thiểu khả năng cạnh tranh của Mỹ trong quá trình toàn cầu hóa – trong thương mại, trong thu hút đầu tư, trong thực hiện “outsourcing”...
[5] Chủ yếu do những thất bại của hai nhiệm kỳ tổng thống George W. Bush vì tham vọng quá lớn trong chiến lược toàn cầu và do sự phá sản của chủ nghĩa tân tự do dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ hiện nay. Cuộc khủng khoảng này âm ỷ từ lâu và bùng nổ với sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers ngày 14-09-2008, sau đó lan tỏa thành quy mô thế giới.
[6] Luce (2009)
[7] Niall Ferguson (2009) và nhiều sách báo khác liên quan của các tác giả: Andrew Bacevich, Noam Chomsky, Timothy P. Carney, Willy Lam, John Tkasick, Francis Fukuyama, Martin Jacques…
[8] Hatoyama hiện nay đang gặp khó khăn vì tai tiếng của một phụ tá.
[9] Xem Blumenthal (2009). Chú ý: Tháng 2-1995 hải quân Philippines bị hải quân Trung Quốc đánh bại trong việc đòi lại đảo San Hô Mischief (Vành Khăn – thuộc Trường Sa), Philippines yêu cầu hải quân Mỹ can thiệp, nhưng bị từ chối với lý do đảo này nằm ngoài phạm vi Hiệp ước phòng thủ chung hai nước ký năm 1951, Mỹ chỉ ra tuyên bố phản đối Trung Quốc
[10] Tham khảo phát biểu của Scot Marciel và Robert Scher, Bộ quốc phòng Mỹ, tại cuộc điều trần trước Thượng viện ngày 15-09-2009 và phát biểu của thượng nghị sỹ Jim Webb tại cuộc điều trần này.
[11] Hillary Clinton (2009)
[12] Barack Obama (2009)
[13] Hynes (1998), Lam (2009)
[14] Tkacik (2007a, b), Dillon và Tkacik (2005-2006)
[15] Có tài liệu nói trong tổng số 2100 tỷ USD dự trữ của Trung Quốc có 35% nằm trong dạng dự trữ bằng đồng USD và 25% là trái phiếu và các giấy tờ thế chấp; nghĩa là gần 1/3 tổng dự trữ của Trung Quốc là do Mỹ nợ. Có lẽ thông tin này chính xác hơn.
[16] Tuy nhiên về quy mô sản xuất dầu lửa, PetroChinavẫn chỉ bằng một phần ba hay một phần hai so với các tập đoàn dầu khí của Anh và Mỹ như EXXON, BP.... Song chính thực tế này đang nói lên chính sách huy động vốn rất quyết liệt của của chính phủ Trung Quốc cho PetroChinavà phản ánh cái “đói dầu” cực kỳ gay gắt của quốc gia này. Xem U.S. News & World Report (2007)
[17] Ferguson (2009), Goldman (2009): “...Chính quyền Trung Quốc hiện nay vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Ðảng Cộng sản... Một thế hệ mới các lãnh tụ Đảng xuất hiện, dẫn đầu là cựu Thị trưởng Thượng Hải Giang Trạch Dân... ngay sau khi lên nắm quyền đã thẳng tay đàn áp những người biểu tình ủng hộ dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989. Tập đoàn lãnh đạo đó – và đặc biệt thế hệ các lãnh tụ hiện thời, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào cùng các cộng sự viên của ông ta, những kẻ lên nắm quyền vào năm 2002 – đang tìm cách giáo huấn trở lại cán bộ Đảng để họ thấm nhuần hệ tư tưởng Lê-ni-nit. Trong khi củng cố năng lực của chính quyền nhằm đối phó với những bất bình đẳng ngày càng tăng và tệ nạn tham nhũng tràn lan, những kẻ lãnh đạo thuộc thế hệ trẻ của xứ sở ấy đang ra sức tái tập trung quyền lực chính trị...” Cao Huy Thuần (2009)
[18] Lam (2009b)
[19] Xem (1) Strategy Page (2007), (2) tường thuật của Taipei Times 22.02.09 về chuyến đi thăm Trung Quốc của đô đốc Mỹ Timothy Keating.
[20] Xem Ngô Vĩnh Long (2009), Cao Huy Thuần (VNN, TDM 2009)
[21] Lam (2009b)
|