Liên hệ
Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Yêu cầu:  
        
Phân tích - Phản biện
Khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa công

Doimoi.org xin giới thiệu bài viết của Donald J. Boudreaux phân tích khu vực tư nhân có thể cung cấp hàng hóa công mà trước đây người ta cho rằng phải hoàn toàn do Chính phủ thực hiện.


Công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học đạt giải Nobel Elinor Ostrom cho thấy người ta rất giỏi sử dụng những hoạt động mang tính chất xã hội hóa để giải quyết những vấn đề mà các sách giáo khoa kinh tế cho rằng phải hoàn toàn do Chính phủ thực hiện.

Cung cấp các “hàng hóa công” (như là hệ thống thủy lợi cho một cộng đồng nông thôn) thường hứa hẹn đủ lợi ích để có thể tạo ra tính sáng tạo của những người mà - nếu được trao đủ tự do và sự đảm bảo về quyền lợi thì có thể xác định rõ ràng cách thức hợp tác với nhau để cung cấp các hàng hóa đó. Sự hợp tác này thường được thực hiện dưới những hình thái khác nhau mà chúng ta có thể thấy trên thị trường giống như những hàng hóa đặc trưng của khu vực tư nhân (giầy dép chẳng hạn).

Theo cách tiếp cận tương tự, các học giả khác sau nhiều năm đã phát hiện ra vô số những ví dụ trong lịch sử về việc khu vực tư nhân đã cung cấp thành công những “hàng hóa công”. Đôi khi là các công ty tư nhân thực hiện việc này để tìm kiếm những lợi nhuận được tính bằng tiền, một số các trường hợp khác là do người dân hợp tác để có được những lợi ích chung trong thực tế, chỉ có điều là chúng không được quy ra tiền hoặc được trao đổi trên các thị trường truyền thống.

Việc phát hiện những ví dụ như vậy thường làm các nhà kinh tế học đặc trưng - những người mà tư duy của họ thường bị đóng khung trong những mô hình tương tác kinh tế sai lầm - ngạc nhiên.

Có lẽ một trong những phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là về việc người ta phát hành ra tiền tệ tư nhân (hay “hoạt động ngân hàng tự do”). F. A. Hayek, George Selgin, và người bạn đồng môn của tôi tại George Mason University là Larry White đã đi đến kết luận rằng không chỉ những gì tương tự tiền đều có khả năng được khu vực tư nhân cung cấp mà trên thực tế chúng đã được khu vực tư nhân cung cấp - đặc biệt là khoảng thời gian từ 1716 đến 1844 tại Scotland.

Về đường xá thì sao?

Với các đường cao tốc giới hạn việc tham gia thì không có vấn đề gì. Những nhà xây dựng đường cao tốc tư nhân có thể dựng các trạm soát vé tại đầu đường và cuối đường để thu phí việc sử dụng đường của họ. Không một kẻ lậu vé nào có thể làm hỏng những nỗ lực thu phí từ những khách hàng sẵn lòng chi trả.

Tuy nhiên các khu phố thì lại khác. Thực hiện việc thu phí tại các ngã tư quả là một điều bất tiện khủng khiếp.

Theo nghiên cứu của nhà sử học David Beito, một phương thức để giải quyết vấn đề thu phí đối với các đường phố được tư nhân xây dựng đã được thấy tại St. Louis:

Năm 1867, các bất động sản tại Benton Place, khu phố tư nhân đầu tiên tại St. Louis, được đưa ra thị trường. Khu phố này được Montgomery Blair, người từng là Tổng Giám đốc Bưu Chính dưới thời Abraham Lincoln thương mại hóa một năm trước đó. Blair đã giao việc thiết kế phố này cho Julius Pitzman. Vào những năm 1870, có ít nhất 4 khu phố tư nhân bao quanh công viên Lafayette. Pitzman đã thiết kế một công viên tại trung tâm khu phố, một đặc trưng mà sau đó các khu bất động sản được tư nhân xây dựng đều mô phỏng theo. Mọi lô nhà đều trải dài đến công viên trung tâm đó. Theo kiểu kiến trúc của Lucas Place [một phố tại St. Louis có những đặc trưng riêng của khu vực tư nhân], mỗi khu nhà đều có những quy định hạn chế, kể cả quy định phải lùi lại một khoảng cách là 25 foot (đơn vị đo) tính từ đường phố. Tuy nhiên, việc xây dựng các dãy nhà cho nhiều hộ gia đình và sử dụng vào mục đích kinh doanh thì không bị cấm. Các quy định này được thông qua tại các cuộc bầu cử để lựa chọn ra 3 ủy viên hội đồng của các chủ sở hữu các lô nhà trên phố. Các ủy viên này thực hiện việc bảo dưỡng đường phố, thắp sáng, chăm sóc công viên, duy trì hệ thống thoát nước, các ngõ hẻm bằng cách thu một khoản phí hàng năm 50 xu mỗi foot mặt tiền đối với một bất động sản trên phố. Được trang bị bằng quyền sở hữu phố riêng, các cư dân của Benton Place được hưởng một loạt các quyền mà những cư dân ở các khu phố khác không có. Các ủy viên hội đồng thực hiện các quyền làm chủ của cộng đồng cư dân trên phố bằng cách dựng một cổng tại đầu phố này và một bức tường ở cuối phố. Họ có quyền từ chối, không cho những cư dân không nộp khoản phí hàng năm nói trên vào các ngõ hẻm hay công viên trung tâm.

Lưu ý rằng những khoản chi trả cho khu phố tư nhân này cũng tương tự như các khoản chi trả cho các hàng hóa công mà người ta thường thấy: hệ thống thoát nước, công viên, dịch vụ vệ sinh và những dịch vụ khác. Bằng cách tập hợp các tiện ích công cộng này vào một gói duy nhất—quyền sở hữu bất động sản trên phố Benton Place— những nhà xây dựng đã thu được tiền nhờ cung cấp các hàng hóa công. Những người không mua bất động sản và không nộp khoản phí nói trên sẽ không có các quyền cư dân để sống tại Benton Place.

Cũng cần lưu ý rằng Beito không hề gọi các khoản phí đó là “thuế.” Ông đã đúng khi làm như vậy. Mọi cư dân mua nhà trên phố Benton Place đều phải bày tỏ việc sẵn sàng chi trả khoản phí nêu trên theo hợp đồng mà họ ký với nhà thầu xây dựng. Những khoản này, do vậy, được thực hiện một cách tự nguyện.

Những ví dụ trong cuộc sống hiện đại


Columbia, Maryland, và Reston, Virginia là những ví dụ gần gũi hơn về các thành phố mà cơ sở hạ tầng được xây dựng và cung cấp bởi khu vực tư nhân. Trong cả hai trường hợp, các nhà thầu xây dựng tư nhân - James Rouse tại Columbia và Robert Simon tại Reston - đã thiết kế và xây dựng các khu phố, hệ thống thoát nước và các công viên. Sau đó họ bán các bất động sản với mức giá đã bao gồm một chi phí cơ sở hạ tầng nhất định.

Rõ ràng là các nhà thầu này đã có được nhân tố khuyến khích để cung cấp cơ sở hạ tầng chất lượng cao. Nếu như các khu phố quá ít ỏi, công viên bé, đường thoát nước nhỏ hẹp thì mức giá tối đa mà những khách hàng có thể trả cho việc mua nhà tại các khu phố đó sẽ thấp đi.

Điều thú vị là không chỉ những cơ sở hạ tầng hữu hình được khu vực tư nhân cung cấp tại Reston và Columbia mà một hàng hóa công quan trọng hơn tất cả cũng được cung cấp: đó là luật pháp. Khi mua một bất động sản tại Reston hay Columbia, người mua phải cam kết tuân thủ điều lệ của thành phố, mà được coi như một thứ hiến pháp. Các điều lệ này đưa ra các quy định hạn chế về việc sử dụng bất động sản (ví dụ, không được để các ô tô cũ tại các khoảng không gian thừa trong các sân trước nhà) cũng như các thủ tục nhằm đưa ra các quyết định tập thể mà có thể ảnh hưởng đến mọi cư dân. Không giống như các hiến pháp và điều luật được thông qua bằng cơ chế đa số phiếu bầu, các quy định này cần được sự đồng thuận trên thực tế của toàn bộ cư dân chịu sự điều chỉnh của chúng.

Trong một tài liệu nghiên cứu năm 2002 của chúng tôi, “Những Chính phủ hợp đồng trên lý thuyết và thực tiễn” Randy Holcombe và tôi đã gọi các thủ tục ban hành quy định và những cơ quan hình thành dựa trên các loại hiến pháp này là “các chính phủ hợp đồng”. Trong đó chúng tôi đã lý giải rằng:

Một chủ sở hữu khi có ý định chia nhỏ các bất động sản và bán chúng thành các gói riêng rẽ đã hình thành nên một dạng ‘chính phủ hợp đồng’ đặc trưng. Động cơ của các chủ sở hữu này là tạo ra giá trị của các gói bất động sản đó. Như vậy, người tạo ra chính phủ hợp đồng có yếu tố khuyến khích để tạo ra những quy định mang tính hiến pháp có giá trị cao hơn… Các nhà kinh doanh tạo nên “chính phủ hợp đồng” là người nhận được thu nhập ròng dựa trên việc đưa ra những quy định hiệu quả. Ngược lại, các chính quyền đô thị thì không nhận được thu nhập nào từ việc đó. Các thị trưởng, các nhà quản lý đô thị, các thành viên hội đồng thành phố có thể có những yếu tố khuyến khích để đưa ra những quyết định hữu hiệu, nhưng không phải là khuyến khích trực tiếp nếu họ có thể thu lợi trực tiếp từ những quyết định hữu hiệu đó như trong trường hợp các chính phủ hợp đồng. Như vậy, không giống như trường hợp các chính quyền đô thị, nhân tố lợi ích trực tiếp tồn tại để sản sinh ra những quy định có hiệu lực mà theo đó một chính phủ hợp đồng có thể vận hành.


Donald J. Boudreaux

Tác giả là GS kinh tế tại Đại học George Mason, nguyên Chủ tịch Quỹ Giáo dục kinh tế FEE, và là tác giả của tác phẩm Toàn cầu hóa.

Nguồn : http://www.thefreemanonline.org/columns/thoughts-on-freedom/the-private-provision-of-public-goods/
_SENDTOFRIENDGửi cho bạn bè  _PRINTNEWSIn tin này
[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Cần điều chỉnh lại các khái niệm “đầu tư”, “vốn đầu tư” (07/06/2010)
  •  
  • Liệu Việt Nam đã tính đúng và đủ nợ công? (05/06/2010)
  •  
  • Khi cảm thấy chiến lược đi chệch hướng (15/05/2010)
  •  
  • Nhận xét lại những quan điểm về xã hội dân sự tại Việt Nam (20/04/2010)
  •  
  • Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008: Sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập đoàn kinh tế quốc doanh (24/03/2010)
  •  
  • Bàn thêm đôi điều về tái cấu trúc nền kinh tế (08/03/2010)
  •  
  • Tư nhân tiếp cận vốn ODA - muộn còn hơn không (03/03/2010)
  •  
  • Học và không học những gì từ Trung Quốc? (26/02/2010)
  •  
  • Rủi ro lạm phát rất đáng lo! (26/02/2010)
  •  
  • Đôi điều về cải cách cơ cấu (tái cấu trúc) nền kinh tế (Phần 2) (25/02/2010)
  •  
  • “Hiện đại thứ hai” và nền văn hóa công luận (22/02/2010)
  •  
  • Tuyệt đối hoá một tư tưởng, tư tưởng khác sẽ tháo lui (22/02/2010)
  •  
  • Minh triết Tam Giáo trong văn hóa Việt (22/02/2010)
  •  
  • Đôi điều về cải cách cơ cấu (tái cấu trúc) nền kinh tế (Phần 1) (19/02/2010)
  •  
  • Tư duy mới về bàn tay nhà nước và thực tiễn Việt Nam... (04/02/2010)

  •   Mời bạn đọc góp ý kiến



    CAPTCHA
     Ý kiến bạn đọc

     

    ©2009 Đổi mới và Phát triển & Atlas Economic Research Foundation.

    Ghi rõ nguồn "Doimoi.org" khi phát hành lại thông tin từ website này.

    Email: info@doimoi.org

    Lượt truy cập: 1147154
     

    doimoi.org

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may tinh xach tay, May tinh xach tay, May Tinh Xach Tay

    may anh so,May anh so,May anh kts, May Anh So

    may cham cong, May cham cong

    san go ngoai troi, san be boi cao cap, san be boi, hang rao go, san sieu chiu nuoc