Liên hệ
Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Yêu cầu:  
        
Phân tích - Phản biện
Tự do thương mại

Bài viết về “Tự do hóa thương mại” được Friedman viết cùng vợ, Rose Friedman, mà chúng tôi giới thiệu sau đây được coi như bản Tuyên ngôn của Friedman về những lôgích và nguyên tắc cơ bản của tự do hóa thương mại. Trong bối cảnh tự do hóa thương mại vẫn đang gây ra nhiều tranh cãi, cả ở những nước phát triển và đang phát triển cũng như ở Việt Nam, Doimoi.org xin giới thiệu bài viết này để độc giả tham khảo và cùng tranh luận.


Thông thường, một chính sách kinh tế được gọi là tốt nếu các chuyên gia kinh tế đồng quan điểm với nhau. Các nhà kinh tế thường bất đồng nhưng điều này đã không xảy ra đối với những vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế. Kể từ thời Adam Smith tới nay, đã có một sự thống nhất thực sự giữa các nhà kinh tế, rằng tự do thương mại quốc tế là lợi ích quan trọng nhất đối với các quốc gia và thế giới. Tuy nhiên, thuế quan vẫn luôn hiện hữu. Hoa Kỳ áp dụng chế độ thuế quan trong suốt thế kỷ thứ 19 và được nâng cao hơn trong thế kỷ 20 bởi luật thuế quan Smoot-Hawley năm 1930, vấn đề mà một số học giả cho là có tác động một phần tới sự đình đốn kinh tế trầm trọng vào giai đoạn sau đó. Thuế quan từ đó được cắt giảm thông qua nhiều hiệp định quốc tế tuy vẫn còn cao và có thể còn cao hơn mức áp dụng từ thế kỷ 19 mặc dù đã có những thay đổi, điều chỉnh lớn về một số hạng mục trong nền thương mại quốc tế.


Hiện nay, vẫn còn nhiều sự ủng hộ thuế quan - dưới cái tên “bảo hộ”, một cái tên tốt cho một nguyên cơ tồi. Các hãng sản xuất tìm cách hạn chế nhập khẩu. Họ luôn lên tiếng vì “lợi ích chung” về nhu cầu bảo tồn nghề nghiệp hay tăng cường an ninh quốc gia. Trong khi đó, tiếng nói của người tiêu dùng lại bị chìm lặng trong sự hỗn tạp về “sự nguỵ biện quyền lợi của giới kinh doanh và nhà sản xuất” và các nhân viên của họ. Kết quả là sự bóp méo nghiêm trọng vấn đề. Ví dụ, người ủng hộ thuế quan coi tạo thêm việc làm là một kết cục mong muốn bất kể đó là nghề gì. Đây là điều hoàn toàn sai trái. Nếu tất cả những điều mà chúng ta cần là việc làm, chúng ta có thể tạo ra bất kỳ số lượng việc làm nào, chẳng hạn như người ta đào hố rồi lấp đi hay thực hiện những công việc không hữu ích khác. Tuy nhiên, đó là giá mà chúng ta phải trả để có điều mà chúng ta muốn. Mục tiêu của ta không chỉ là công việc mà còn là công việc hữu dụng – công việc qua đó cung cấp nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn cho tiêu dùng.


Một số ý kiến, một ảo tưởng khác ít khi phát hiện ra sự mâu thuẫn khi cho rằng xuất khẩu là tốt, nhập khẩu là không tốt. Sự thật lại rất khác biệt. Chúng ta không thể ăn, mặc hoặc hưởng thụ hàng hóa ta xuất ra nước ngoài. Chúng ta ăn chuối nhập từ Trung Mỹ, đi giầy của người Ý, đi xe hơi của Mỹ và thưởng thức các chương trình trên TV được sản xuất bởi người Nhật Bản. Thành quả của chúng ta từ ngành ngoại thương là những gì nhập khẩu được. Xuất khẩu là giá chúng ta phải trả để tiếp nhận các mặt hàng nhập khẩu. Như Adam Smith đã từng nhìn nhận vấn đề một cách hết sức rõ ràng, công dân của một quốc gia hưởng lợi từ được hưởng lợi ích từ việc càng nhập khẩu khối lượng lớn bao nhiêu lại càng có khả năng xuất khẩu bấy nhiêu, hay nói cách khác xuất khẩu càng ít thì khả năng chi trả cho nhập khẩu cũng ít.


Những thuật ngữ được dùng không đúng phản ánh các ý kiến sai lệch này. “Bảo hộ” trong thực tế có nghĩa sự bóc lột người tiêu dùng. “Cán cân thương mại thặng dư” có nghĩa xuất khẩu vượt quá nhập khẩu, có nghĩa xuất hàng hóa ra nước ngoài với tổng giá trị lớn hơn số hàng hóa được nhập từ bên ngoài vào. Trong gia đình, chắn chắn bạn ưa thanh toán ít mà tiếp nhận được nhiều hơn. Điều này được gọi là “cán cân thanh toán thâm hụt” trong thương mại quốc tế.


Lập luận ủng hộ thuế quan, là những lời thuyết phục nhất đối với công chúng vì đó là những lời lẽ bảo vệ người lao động Mỹ có mức sống cao từ sự cạnh tranh “không lành mạnh” của người lao động Nhật Bản, Hàn Quốc hay Hồng Kông vốn sẵn lòng làm việc với mức lương thấp hơn. Vậy điều sai trái trong lập luận này là gì? Chúng ta có cần bảo vệ những người có mức sống cao không?


Sự sai lầm của lập luận này là việc sử dụng không chặt chẽ các thuật ngữ lương “cao” và lương “thấp”. Vậy lương cao và thấp có nghĩa là gì? Người công nhân Mỹ được trả lương bằng đồng đô-la; người công nhân Nhật Bản được trả lương bằng đồng Yên. Vậy làm sao chúng ta có thể so sánh các khoản lương bằng đô-la và khoản lương bằng Yên. Bao nhiêu Yên tương đương với một đô-la? Yếu tố gì quyết định tỷ giá hối đoái?


Hãy xem xét một trường hợp cực đoan. Giả sử rằng, hãy bắt đầu với, 360 yên Nhật tương ứng với 1 đô-la. Theo tỷ giá này, mức trao đổi thực tế trong nhiều năm, giả thiết rằng người Nhật có thể sản xuất và bán mọi hàng hoá để đổi lấy một lượng đô-la ít hơn lượng mà chúng ta có thể thu được ở Mỹ, các mặt hàng như TV, xe hơi, sắt thép, và thậm chí đậu tương, lúa mỳ, sữa và kem. Nếu chúng ta có được một nền tự do thương mại quốc tế, chúng ta sẽ mua tất cả hàng hoá từ Nhật Bản. Đây dường như sẽ là câu chuyện cực kỳ rùng rợn về điều được mô tả bởi những người bảo vệ thuế quan – chúng ta sẽ bị tràn ngập bởi hàng hoá Nhật mà không thể bán được gì cho họ.


Trước khi can thiệp vào câu chuyện này, hãy thử phân tích một bước sâu hơn. Bằng cách nào chúng ta thanh toán cho người Nhật? Chúng ta sẽ trao cho họ những bản hóa đơn bằng đô-la. Họ sẽ làm gì với những hoá đơn đô-la? Chúng ta giả thiết rằng 360 yên đổi được một đô-la, mọi thứ đều rẻ hơn ở Nhật Bản, do vậy chẳng có gì ở Mỹ chúng ta cần mua. Nếu những nhà xuất khẩu Nhật sẵn lòng huỷ những hoá đơn đô-la, thì điều đó thật tuyệt vời đối với chúng ta. Chúng ta sẽ tiếp nhận tất cả các loại hàng hoá mà chỉ mất những mẩu giấy mà chúng ta có thể sản xuất với số lượng lớn và với giá rẻ. Chúng ta sẽ có một ngành công nghiệp xuất khẩu tuyệt hảo.


Đương nhiên, trong thực tế người Nhật sẽ không bán cho chúng ta hàng hóa thiết yếu (hữu ích) để nhận những hoá đơn vô dụng chỉ để đem chôn hoặc tiêu huỷ. Giống như chúng ta, họ cần nhận được những thứ thật sự hữu ích cho công việc của họ. Nếu tất cả các loại hàng hoá đều rẻ hơn ở Nhật Bản so với ở Hoa Kỳ theo tỷ giá 360 yên cho một đô-la, các nhà xuất khẩu sẽ cố gắng bán đô la với tỷ giá 360 yên/1đô là để mua những hàng hóa Nhật Bản có giá rẻ hơn. Nhưng ai sẽ sẵn lòng mua đô-la? Những gì đúng với các nhà xuất khẩu Nhật đều đúng với mọi công dân nước này. Không ai sẵn sàng bỏ ra 360 yên để đổi lấy 1 đô-la nếu 360 yên có thể mua được nhiều thứ hơn ở Nhật Bản so với 1 đô-la ở Mỹ. Các nhà xuất khẩu, khi phát hiện ra rằng không ai mua đô-la theo giá 360 yên, sẽ giảm số đồng yên cho 1 đô-la. Trị giá đồng đô-la tương ứng với đồng yên sẽ giảm xuống 300 yên một đô-la hoặc 250 yên hoặc 200 yên một đô-la. Trong một trường hợp khác, sẽ cần nhiều đô-la hơn để mua một lượng đồng yên nhất định. Hàng hoá Nhật được định giá bằng đồng yên, do vậy giá của hàng hóa bằng đồng đô-la sẽ tăng lên. Ngược lại, các hàng hóa Mỹ được định giá bằng đồng đô-la, do đó với một lượng đồng yên nhất định, người Nhật sẽ được nhận nhiều đô la hơn, và hàng hóa Mỹ sẽ rẻ hơn đối với người Nhật liên quan đến trị giá đồng yên.


Giá đồng đô-la so với đồng yên sẽ giảm, cho đến khi, ở mức trung bình, giá trị đồng đô-la về hàng hoá mà người Nhật mua từ Mỹ gần như tương ứng với giá trị đồng đô-la về hàng hóa mà người Mỹ mua từ Nhật. Ở mức giá đó, mọi người muốn mua đồng yên để lấy đô-­la sẽ tìm được người sẵn sàng bán cho mình đồng yên để lấy đô-la.


Đương nhiên, tình hình thực tế phức tạp hơn nhiều so với ví dụ mang tính giả thuyết này. Nhiều quốc gia, và không chỉ Mỹ và Nhật Bản, đã tham gia vào các hoạt động thương mại và thương mại thường diễn biến theo nhiều phương hướng khác nhau. Người Nhật có thể chi tiêu một lượng đô-la thu nhập ở Braxin, người Braxin ngược lại có thể chi tiêu số đô-la này ở Đức và người Đức tiêu số đô-la này ở Mỹ và cứ như vậy theo vòng quay của sự phức tạp không giới hạn. Tuy nhiên, nguyên lý thì giống nhau. Người dân, ở bất cứ quốc gia nào, trước hết muốn có đồng đô-la để mua sắm những hàng hóa hữu dụng, không để dự trữ, và sẽ không có vấn đề gì trong cân đối thanh toán cho đến khi giá đồng đô-la khi trao đổi sang yên hay mark hay franc được quyết định tại thị trường tự do thông qua các giao dịch tự nguyện.


Vậy tại sao lại có sự tranh cãi về sự “yếu kém” của đồng đô-la? Tại sao xảy ra sự khủng hoảng liên tục của tỷ giá hối đoái? Lý do chính là các tỷ giá hối đoái ngoại tệ không được quyết định trong một thị trường tự do. Các ngân hàng trung ương của chính phủđã can thiệp vào các tỷ giá hối đoái nhằm tạo ảnh hưởng lên giá trị các đồng tiền của mình. Trong quá trình này, họ đã đánh mất khối lượng lớn tiền mặt của người dân (đối với Mỹ, đã mất khoảng gần hai tỷđô-la trong giai đoạn từ năm 1973 đến đầu năm 1979). Quan trọng hơn, họ cản trở các mức giá thực hiện đúng chức năng của nó. Họ không có khả năng ngăn chặn các sức mạnh kinh tế lớn gây tác động lên các tỷ giá hối đoái song chỉ có thể duy trì các tỷ giá hối đoái ảo trong một số giai đoạn thời gian nhất định. Tác động ở đây là cản trở sự điều chỉnh từng bước. Các tác động tiêu cực nhỏ tích luỹ thành các tác động lớn và rốt cuộc dẫn tới sự “khủng hoảng” lớn về tỷ giá hối đoái.


Trong tất cả số tài liệu đồ sộ trong một vài thế kỷ qua về tự do mậu dịch và chủ nghĩa bảo hộ, chỉ có ba luận cứ bảo vệ thuế quan là có giá trị về mặt nguyên lý.


Thứ nhất là luận cứ về an ninh quốc gia - một luận cứ cho rằng công nghiệp thép trong nước là cần thiết vì mục tiêu quốc phòng. Mặc dù luận cứ này thường là cơ sở lý giải vềtính hợp lý cho một loại thuế quan nào đó, điều không thể phủ nhận là điều đó có thể biện hộ cho sự duy trì các phương tiện sản xuất phi kinh tế. Đằng sau sự khẳng định này và trong một trường hợp cụ thể, thuế quan và sự hạn chế mậu dịch được lý giải là nhằm tăng cường an ninh quốc gia. Tuy nhiên, điều cần thiết là so sánh chi phí nhằm đạt được mục tiêu an ninh theo nhiều cách khác nhau. Trong thực tế, sự so sánh chi phí như vậy rất ít khi được thực hiện.

Chúng tôi có thể nói với mọi người trên thế giới rằng: Chúng tôi không thể ép buộc các bạn phải tự do. Nhưng chúng tôi tin vào sự tự do và chúng tôi đang có ý định thực hiện nó.


Lập luận thứ hai cho rằng mỗi nước cần phải bảo hộ ngành công nghiệp luyện thép còn non trẻ của mình. Tiêu biểu cho lập luận này là Alexander Hamilton trong bản Báo cáo về các ngành công nghiệp chế tạo. Lý do được đưa ra là, nếu một ngành công nghiệp tiềm năng được xây dựng và giúp đỡ trong các giai đoạn phát triển khó khăn , nó sẽ mang lại lợi ích cho thị trường thế giới theo nghĩa tạo ra sự bình đẳng. Một mức thuế quan tạm thời là xác đáng để giúp cho ngành công nghiệp tiềm năng đó có thể trưởng thành, cho tới khi nó có thể tựđứng vững được trên chính đôi chân của mình. Nhưng ngay cả khi nếu như ngành công nghiệp tiềm năng này có thể trưởng thành, thì khi nào nó có thể tự đứng vững được trên chính đôi chân của nó? Ngay cả khi nếu như ngành công nghiệp tiềm năng này có thể được xây dựng một cách thành công, thì điều đó bản thân nó cũng không biện hộđược cho việc định ra một mức thuế quan nhất định từ ban đầu. Sẽ là xác đáng khi người tiêu dùng phải mất thêm tiền để trợ cấp cho ngành công nghiệp non trẻ đó chỉ khi nào số tiền trợ cấp đó được hoàn lại bằng những cách thức khác nhau, chẳng hạn qua giá (giá sản phẩm thép trong nước thấp hơn giá của thị trường thế giới) hoặc những lợi ích khác mà việc có được ngành công nghiệp này mang lại. Nhưng ngay cả trong trường hợp đó việc trợ cấp có phải là một nhu cầu thực sự không? Mặt khác, điều gì sẽ xảy ra khi mà sự trợ cấp đó không được bồi hoàn? Cuối cùng, kinh nghiệm là phần lớn các công ty đều phải chịu lỗ trong những năm đầu tiên, khi chúng bắt đầu được xây dựng, khi dựđịnh phát triển một ngành công nghiệp mới hoặc khi bắt đầu tham gia vào một ngành công nghiệp đã có.


Luận cứ về ngành công nghiệp non trẻ tạo nên một màn sương mù về mặt nhận thức. Cái được gọi là “non trẻ” lại không bao giờ trưởng thành. Một khi được thiết lập, hiếm khi nào các mức thuế quan lại bị xóa bỏ. Hơn nữa, lập luận này cũng hiếm khi được sử dụng với hi vọng cái chưa thực sự hiện hữu (ngành công nghiệp non trẻ) có thểđược quan niệm như là hiện hữu và có thể tồn tài nếu tạm thời bảo hộ nó. Nó (lập luận này) đôi khi cũng được sử dụng nhằm bào chữa cho các mức thuế quan được đưa ra dưới các sức ép chính trị về sự tụt hậu của ngành công nghiệp nội địa.


Luận cứ thứ ba cho việc duy trì hàng thuế quan không vượt khỏi phạm vi của lập luận về sự “ăn mày hàng xóm”1. Một nước nếu như là nhà sản xuất chính của một mặt hàng nào đó, hoặc nếu như có thể liên kết với một số lượng nhỏ các nhà sản xuất khác để cùng kiểm soát phần lớn thị phần của sản phẩm, thì có thể tận dụng vị thếđộc quyền bằng việc tăng giá sản phẩm (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ - OPEC - là ví dụ điển hình của trường hợp này). Tuy nhiên, thay vì tăng giá sản phẩm một cách trực tiếp, các nước này có thể thực hiện một cách gián tiếp bằng việc áp đặt một mức thuế trên sản phẩm – thuế xuất khẩu. Lợi nhuận thu được cho nước xuất khẩu khi đó sẽ thấp hơn chi phí của những nước khác, nhưng trên phương diện quốc gia, đó lại có thể là lãi ròng. Tương tự như vậy, một nước nếu là người mua chủ yếu của một mặt hàng – nhìn trên phương diện kinh tế học thì họ có độc quyền mua (monopsony)2. Nhóm người có độc quyền mua có khả năng được lợi bằng việc tăng cường mặc cả với người bán và áp đặt một mức giá thấp cho mặt hàng này. Đó là cách thức áp đặt thuế quan với hàng hóa nhập khẩu. Lãi thực thu được đối với người bán khi đó sẽ là phần giá đã trừđi thuế (nhập khẩu), điều này giải thích tại sao thuế lại vẫn có thể giữ nguyên ngay cả khi hàng hóa được mua ở một mức giá thấp hơn. Trên thực tế, thuế quan đã được trả bởi người bên ngoài nước nhập khẩu (chúng tôi cho rằng hiện chưa có một ví dụđiển hình cho điều này). Trong thực tiễn, phương pháp mang tính chất dân tộc chủ nghĩa này rất được các nước ưa dùng nhằm trả đũa lẫn nhau. Thêm vào đó, cũng giống như lập luận về nền công nghiệp non trẻ, những áp lực chính trịhiện nay đang có khuynh hướng tạo ra các cấu trúc thuế quan mà trên thực tế không hềmang lại lợi ích cho bất cứ một nhà độc quyền bán (monopoly) hay độc quyền bán nào (monopsony).


Luận cứ thứ tư, vốn đã từng được đưa ra bởi Alexander Hamilton và hiện vẫn tiếp tục được nhắc lại, đó là tự do thương mại sẽ tốt nếu tất cả các nước khác đều thực hiện nhưng không nước nào có thể thực hiện được điều này lâu, và nước Mỹ cũng vậy. Lập luận này không hề có một chút giá trị nào, cả trên phương diện nguyên tắc và thực tiễn. Những nước áp đặt các giới hạn về thương mại quốc tế đương nhiên sẽ gây thiệt hại đến lợi ích của nước Mỹ. Nhưng họ cũng tự gây thiệt hại đến chính lợi ích của mình. Ngoài ba trường hợp vừa được trình bày ở trên, nếu chúng ta (người Mỹ) áp đặt những hạn chếđối với các nước khác thì chúng ta cũng sẽ tự gây thiệt hại cho chính mình và cho họ. Sự cạnh tranh này là phương thuốc khó đối với một chính sách kinh tế nhạy cảm. Nếu các nước không giảm dần việc áp đặt hạn chế thì một hành động trả đũa sẽ tạo ra những hạn chế mạnh hơn.


Chúng ta là một quốc gia mạnh, nhà lãnh đạo của thế giới. Thật là xấu hổ khi mà chúng ta đòi hỏi Hồng Kông và Đài Loan phải áp đặt cô-ta xuất khẩu đối với hàng dệt may của họ nhằm “bảo vệ” nền công nghiệp may mặc của chúng ta vốn gây ra nhiều thiệt hại cho người tiêu dùng Mỹ và cho những người công nhân Trung Quốc tại Hồng Kông và Đài Loan. Chúng ta hô hào về những giá trị của tự do thương mại, trong khi chúng ta lại sửdụng sức mạnh kinh tế và chính trị của mình để xui khiến Nhật Bản hạn chế xuất khẩu thép và máy truyền hình. Chúng ta cần phải hoàn toàn đứng về phía tự do thương mại, không nhất thiết là ngay lập tức nhưng với một thời hạn ít nhất là 5 năm, phải có được một bước tiến vượt bậc.


Một số biện pháp mà chúng ta sử dụng có thể sẽ thúc đẩy hơn nữa lý do thực hiện tự do hóa tại chính nước Mỹ cũng như tại nước ngoài hơn là hoàn thành việc tự do hóa thương mại. Thay cho việc tài trợ cho chính phủ các nước được gọi là khoản trợ cấp kinh tế, nhưng đông thời lại thực hiện các biện pháp hạn chế các sản phẩm do các nước này sản xuất, do đó cản trở doanh nghiệp phát triển tự, do thì chúng ta có thể đạt được một chỗ đứng vững chắc. Chúng ta có thể nói với thế giới rằng: Chúng tôi tin tưởng vào tự do và mong muốn thực hiện nó. Chúng tôi không thể ép buộc các bạn phải tự do. Nhưng chúng tôi có thể mang lại sự hợp tác đầy đủ một cách bình đẳng cho tất cả. Thị trường của chúng tôi luôn mở rộng cho các bạn mà không hề có thuế quan hay các hạn chế khác. Hãy bán ở đây cái mà các bạn có thể bán và muốn bán. Hãy mua bất cứ thứ gì mà các bạn có thể mua và muốn mua. Bằng cách này, sự hợp tác giữa mọi người trên thế giới sẽ được ngày càng được mở rộng.

1 “beggar-thy-neighbor” - An international trade policy of competitive devaluations and increased protective barriers where one country seeks to gain at the expense of its trading partners. (Financial dictionary). (Tạm dịch: Chính sách thương mại quốc tế dựa trên việc phá giá và tăng cường các hàng rào bảo hộ khi một nước cố gắng tìm kiếm lợi ích từ các đối tác thương mại của nó).

2 Definition of Monopsony: Monopsony is a state in which demand comes from one source. If there is only one customer for a certain good, that customer has a monopsony in the market for that good. Analogous to monopoly, but on the demand side not the supply side. Definition of Monopoly: If a certain firm is the only one that can produce a certain good, it has a monopoly in the market for that good.


Tài liệu tham khảo: Milton Friedman and Rose Friedman, The Case for Free Trade.

Nguyễn Văn Y
dịch

Nguồn : Sưu tầm
_SENDTOFRIENDGửi cho bạn bè  _PRINTNEWSIn tin này
[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa công (22/07/2010)
  •  
  • Cần điều chỉnh lại các khái niệm “đầu tư”, “vốn đầu tư” (07/06/2010)
  •  
  • Liệu Việt Nam đã tính đúng và đủ nợ công? (05/06/2010)
  •  
  • Khi cảm thấy chiến lược đi chệch hướng (15/05/2010)
  •  
  • Nhận xét lại những quan điểm về xã hội dân sự tại Việt Nam (20/04/2010)
  •  
  • Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008: Sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập đoàn kinh tế quốc doanh (24/03/2010)
  •  
  • Bàn thêm đôi điều về tái cấu trúc nền kinh tế (08/03/2010)
  •  
  • Tư nhân tiếp cận vốn ODA - muộn còn hơn không (03/03/2010)
  •  
  • Học và không học những gì từ Trung Quốc? (26/02/2010)
  •  
  • Rủi ro lạm phát rất đáng lo! (26/02/2010)
  •  
  • Đôi điều về cải cách cơ cấu (tái cấu trúc) nền kinh tế (Phần 2) (25/02/2010)
  •  
  • “Hiện đại thứ hai” và nền văn hóa công luận (22/02/2010)
  •  
  • Tuyệt đối hoá một tư tưởng, tư tưởng khác sẽ tháo lui (22/02/2010)
  •  
  • Minh triết Tam Giáo trong văn hóa Việt (22/02/2010)
  •  
  • Đôi điều về cải cách cơ cấu (tái cấu trúc) nền kinh tế (Phần 1) (19/02/2010)

  •   Mời bạn đọc góp ý kiến



    CAPTCHA
     Ý kiến bạn đọc

     

    ©2009 Đổi mới và Phát triển & Atlas Economic Research Foundation.

    Ghi rõ nguồn "Doimoi.org" khi phát hành lại thông tin từ website này.

    Email: info@doimoi.org

    Lượt truy cập: 1147117
     

    doimoi.org

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may tinh xach tay, May tinh xach tay, May Tinh Xach Tay

    may anh so,May anh so,May anh kts, May Anh So

    may cham cong, May cham cong

    san go ngoai troi, san be boi cao cap, san be boi, hang rao go, san sieu chiu nuoc