|
Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đề xuất tăng giá điện khoảng 50% với lý do giá hiện nay đang được định thấp, không thu hút được đầu tư mới trong khi nhu cầu điện ngày càng tăng.
Giống như phản ứng trước chuyện tăng học phí trước kia hay viện phí mới đây, dư luận cũng đặt vấn đề cần phải công khai minh bạch nguồn đầu tư từ ngân sách, cơ cấu giá thành và đòi hỏi chống lãng phí, thất thoát. Ngành điện nói riêng, ngành năng lượng nói chung còn một việc lớn phải “tự xử” nữa trước khi lên tiếng đòi tăng giá điện là phải tập trung vốn – yếu tố mà ngành này đang than khan hiếm – vào nhiệm vụ tối thượng của mình là sản xuất, cung cấp điện chứ không phải là đầu tư tài chính, bất động sản…
Tuy nhiên, ngay cả khi những vấn đề này được giải quyết, nhìn sâu vào bản chất nền kinh tế và cách thức điều hành hiện nay, giá điện vẫn không thể không tăng, đồng thời người dân vẫn sẽ tiếp tục phản ứng vì quá khả năng chi trả và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối (ưu tiên cho khu vực thành thị, sản xuất). Nhà nước bắt buộc phải có hành động nhưng bằng cách nào, tiếp tục trợ giá như trước đây hay người tiêu dùng phải trực tiếp chi trả ngay hay có cách khác?
Tiến sĩ kinh tế Lê Hồng Nhật cho rằng, câu chuyện về giá điện bộc lộ những mâu thuẫn ở cả cấp độ tổng quát lẫn vi mô của nền kinh tế và cả xã hội, sẽ không thể giải quyết nếu không nhìn thấy nguyên nhân sâu xa của nó: năng suất lao động.
Năng suất lao động của Việt Nam rất thấp, thể hiện qua chỉ số ICOR cao và sức mua (yếu) của đồng tiền. Trong khi, đó lại là yếu tố quyết định mức tiền lương và giá cả.
Một mặt, vì năng suất lao động thấp nên khả năng chi trả cho tiền điện thấp, gây áp lực cản trở việc Chính phủ nâng giá điện theo hướng kích thích phát triển nguồn cung. Do đó, nguồn cung điện bị hạn chế. Mặt khác, nếu việc thúc đẩy tăng trưởng không dựa trên tăng năng suất, hiệu quả, mà chủ yếu dựa vào việc tận dụng tài nguyên thiên nhiên và lao động với công nghệ thô sơ như hiện nay, thì tăng trưởng càng cao, nhu cầu tiêu hao điện sẽ càng cao. Do vậy, cầu luôn có xu hướng vượt cung. Nói khác đi, chính nền kinh tế tự nó tạo ra sự mất cân đối về điện. Một cái vòng luẩn quẩn: năng suất thấp gây ra thiếu điện, thiếu điện (cộng với cách xử lý việc thiếu điện một cách không có khoa học tổ chức như cúp tuỳ tiện) làm năng suất thấp.
|
Năng suất lao động thấp có nguyên nhân từ trình độ công nghệ, nhân lực, năng lực tổ chức, quản lý, đều là những vấn đề liên quan đến “gốc rễ” giáo dục. Gốc rễ nhưng chưa bao giờ có một nỗ lực nghiêm túc.
|
Cách thức điều hành giá điện hiện nay đang khiến doanh nghiệp có năng suất cao hay thấp cũng đều có nhu cầu cao về điện. Một số doanh nghiệp FDI ở Bình Dương có năng suất cao hơn năng suất trung bình chung của nền kinh tế, cộng với việc được hưởng mức giá điện thấp do được Nhà nước hỗ trợ chung cho nền kinh tế, nên có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường. Vì vậy, họ càng mở rộng sản xuất, nhu cầu điện càng tăng. Trong chừng mực nào đó, vì được hưởng giá rẻ so với khả năng chi trả nên họ có động cơ sử dụng điện lãng phí. Ngược lại, các doanh nghiệp trong nước có năng suất lao động thấp nhưng do được trợ giá yếu tố đầu vào là điện cũng vẫn duy trì sản xuất, thậm chí nhu cầu cũng tăng. Trong khi nguồn lực khan hiếm, nó lại được phân bổ theo những cách thức không hợp lý.
Năng suất lao động thấp có nguyên nhân từ trình độ công nghệ, nhân lực, năng lực tổ chức, quản lý, đều là những vấn đề liên quan đến “gốc rễ” giáo dục. Gốc rễ nhưng chưa bao giờ có một nỗ lực nghiêm túc.
Nếu không giải quyết gốc rễ này, không chỉ câu chuyện giá điện gặp khó, dẫn đến khủng hoảng năng lượng mà còn dẫn đến mất cân đối chung như khủng hoảng nợ nần quốc gia và lạm phát.
Cụ thể là, nếu năng suất trong nước tiếp tục bị tụt lùi so với các nước có quan hệ thương mại lớn với Việt Nam, thì sức mua của đồng nội tệ càng yếu đi, dẫn đến nhu cầu phải phá giá như hiện nay. Tuy nhiên, về mặt tâm lý, khó có thể phá giá quá nhiều vì sẽ gây ra kỳ vọng lạm phát. Thông thường, Chính phủ sẽ phá giá ít hơn so với sự mất giá do năng suất thấp đòi hỏi. Tức là, đồng tiền Việt Nam bị định giá quá cao so với các đồng tiền khác như đôla, euro, bảng Anh. Do vậy, giá xuất khẩu tính theo ngoại tệ bị đẩy lên và giá nhập khẩu tính theo tiền Việt bị rẻ đi một cách giả tạo. Nhập khẩu vẫn tăng, như nhập khẩu xe hơi, ngay cả khi nền kinh tế ốm yếu do tác động của khủng hoảng. Vinashin chịu ảnh hưởng của cả việc không có lợi thế cạnh tranh qua năng suất và tỷ giá kích thích lẫn khủng hoảng nên “chết” trước. Ai chết sau thì chưa biết. Vậy cái gốc là vấn đề hiệu quả, không phải FDI hay vay nợ được như Vinashin đã làm. Muốn hiệu quả, phải đi từ giáo dục.
Mỹ Lệ
|