Thời điểm lật đổ trường phái kinh tế học của Keynes

Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes tin vào những quan điểm rằng các nền kinh tế bị chi phối bởi chi tiêu hơn là sản xuất. Có ba nhân tố đồng thời củng cố và duy trì niềm tin này. Bài viết dưới đây của Peter Smith sẽ đề cập lần lượt ba nhân tố này trước khi thảo luận về việc liệu đã đến thời điểm chín muồi để lật đổ lý thuyết kinh tế học theo trường phái Keynes hay chưa.


Khi nhìn vào những chính phủ hoang đàng, nợ nần và ngày càng lấn sâu vào nợ nần như là Anh, Mỹ. Hy lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Ireland và những chính phủ khác, người ta đều thấy những nhà kinh tế học chuyên nghiệp đứng ở hậu trường. Qua mười đến hai mươi năm của thời kỳ chi tiêu chính phủ quá mức gần đây, một số quan chức chính phủ cao cấp, được đào tạo bằng những nguyên tắc kinh tế khắt khe, chắc hẳn phải liên tục đưa ra những lời khuyên bền bỉ và dũng cảm rằng nếu cứ như vậy thì mọi thứ rồi sẽ kết thúc trong nước mắt. Họ có làm như vậy không nhỉ?

Hãy bàn về việc chi tiêu chính phủ ồ ạt mà hầu hết các quốc gia gần đây thực hiện để chống lại cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Hầu như không có một dấu hiệu nào cho thấy những nhà kinh tế ở khu vực công đưa ra khuyến nghị về đôi chút kiềm chế nào. Mà thực tế là ngược lại. Ken Henry chắc chắn không đề xuất bất cứ sự kiềm chế nào. Chúng ta cần một gói kích cầu và chúng ta cần nó ngay bây giờ, đó là luận điểm của Ken. Bộ trưởng Tài chính Mỹ, Timothy Geithner, là một người ủng hộ nhiệt tình cho việc chi tiêu cho kích cầu và rõ ràng là còn gắn bó với điều này hơn nữa, nếu ta có thể coi những bình luận của ông trong Hội nghị G20 vào tháng Sáu tại Toronto là những định hướng.

Nhìn bất cứ đâu chúng ta cũng thấy hoạt động kinh tế của khu vực chính phủ bị những nhà kinh tế học theo trường phái can thiệp của Keynes chiếm lĩnh. Chính trị là một phần của hiện tượng này nhưng không thể nào lại là toàn bộ. Một số những nhà được gọi là nhà kinh tế học là người mang tư tưởng cánh tả. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ đơn thuần là những nạn nhân của một người mà đã được Thomas Woods mô tả một cách đầy sắc màu trong tác phẩm “Tan chảy” (Meltdown) như là “một trong những thằng ngu của thế kỷ hai mươi”: John Maynard Keynes.

Ngu hay không thì Keynes cũng đã sản sinh ra nhiều thế hệ các nhà kinh tế và chính trị gia với quan điểm rằng việc tiêu tiền cũng cũng giống như việc kiếm tiền. Điều này có thể làm bạn nhớ đến nhân vật Michael Douglas trong Cuộc chiến Hoa hồng (War of the Roses) đã nói với vợ anh ta (do Kathleen Turner đóng): “ em yêu, tiêu tiền thì dễ hơn kiếm tiền rất nhiều”. Vâng, nhưng với các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes thì không phải như vậy.

Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes tin vào những quan điểm kỳ quặc và giả dối rằng các nền kinh tế bị chi phối bởi chi tiêu hơn là sản xuất. Với họ thì chi tiêu là một trong những động lực chi phối nền kinh tế. Có ba nhân tố đồng thời củng cố và duy trì niềm tin này. Nhân tố thứ nhất là cách thức mà kinh tế học được giảng dạy; nhân tố thứ hai là việc hình thành cái gọi là “nhận thức thông thường” (conventional wisdom) xung quanh lý thuyết kinh tế của Keynes; nhân tố thứ ba là cách thức mà các cán cân quốc gia và mô hình kinh tế vĩ mô đã “mặc áo giáp chống đạn” cho “nhận thức thông thường “ này để chống lại bất kỳ một trải nghiệm nào khác. Tôi sẽ đề cập lần lượt ba yếu tố này trước khi thảo luận về việc liệu đã đến thời điểm chín muồi để lật đổ lý thuyết kinh tế học theo trường phái Keynes hay chưa.

Việc giảng dậy kinh tế


Hầu hết các chuyên gia kinh tế của các chính phủ đều được dạy kinh tế vĩ mô qua lăng kính của lý thuyết kinh tế học của Keynes như thể họ là một và giống hệt nhau. Họ được dẫn đến chỗ tin tưởng rằng tăng tổng cầu thông qua chi tiêu chính phủ là cách để tạo ra sự tăng trưởng và phồn vinh.

Yếu tố cốt lõi của vấn đề này là bản thân thuật ngữ kinh tế vĩ mô (macroeconomics). Nó có một lịch sử u ám và khá cận đại. Cuốn OED mà tôi tham khảo đã sử dụng thuật ngữ này lần đầu tiên vào năm 1948. Tuy nhiên, chắc chắn là nó dường như được tao ra từ nhiều nguồn, được nhà kinh tế học người Thụy điển Ragnur Frish sử dụng lần đầu tiên vào năm 1933. Nhưng thuật ngữ này cũng như từ trái nghĩa của nó là kinh tế vi mô (microeconomics) đều chưa được sử dụng một cách phổ biến cho đến tận nửa sau của thế kỷ hai mươi. Một điều quan trọng là thuật ngữ này chỉ nổi lên bối cảnh lý thuyết kinh tế của Keynes. Keynes không sử dụng thuật ngữ “kinh tế vĩ mô” trong Lý thuyết Tổng quát (General Theory), nhưng ông lại chính là cha đẻ của nó. Lý thuyết Keynes và kinh tế vĩ mô trở thành những từ đồng nghĩa, cho đến tận ngày nay vẫn được người ta sử dụng tràn lan như vậy.

Những nhà kinh tế học cổ điển của thế kỷ mười tám và mười chín, từ Adam Smith đến J.S. Mill (và các nhà kinh tế học tân cổ điển như là Marshall và Pigou, những người đi theo họ vào cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi trước thời của Keynes) đã quy đồng bức tranh lớn - nền kinh tế và thương mại quốc gia  - về bức tranh nhỏ - hộ gia đình, doanh nghiệp và người làm công. Họ hoàn toàn đúng bởi bức tranh nhỏ và bác tranh lớn gắn bó chặt chẽ. Bạn không thể nhìn bức tranh này mà không xét đến bức tranh kia.

Chủ nghĩa Keynes đã tạo ra sự phân hóa trong giáo dục về kinh tế hoàn toàn không phù hợp với cách mà các nền kinh tế hoạt động. Các cuốn sách giáo khoa được chia làm hai phần: kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô. Kinh tế vĩ mô có đời sống riêng của nó. Đó là thế giới của riêng Keynes với các tổng số dường như hoàn toàn khác biệt với những lực lượng kinh tế chi phối các hộ gia đình, doanh nghiệp và người làm công. Keynes và những người đi theo trường phái của ông đã sáng tạo ra một thế giới nhân tạo mà trong thực tế nó không có mối quan hệ nào với các lực lượng kinh tế cơ sở. Thế giới này không có trụ cột, không có nền móng. Việc cố gắng hiểu một nền kinh tế hoạt động như thế nào, làm thế nào để nó hiệu quả thông qua lý thuyết về kinh tế vĩ mô giống như việc cố hiểu một cỗ máy hoạt động như thế nào, làm sao để sửa chữa nó mà không quan tâm đến những bộ phận cấu thành nên cỗ máy đó và việc chúng phối hợp với nhau như thế nào. 

Đó là lý do tại sao những nhà kinh tế học của khu vực công và hầu hết các nhà kinh tế ở lĩnh vực học thuật và các nhà bình luận kinh tế gần đây trở nên mất phương hướng với các nền kinh tế phải đón nhận những toa thuốc kiểu Keynes của họ. Họ băn khoăn: điều gì đã xảy ra thế nhỉ ? Chúng ta đã tiêu cả đống tiền, các khoản vay khổng lồ mà nền kinh tế thì vẫn suy thoái và càng trở nên tồi tệ hơn. Họ không có một lý thuyết kinh tế thống nhất để có sự định hướng.

Kể từ thời Keynes tới giờ, học kinh tế đồng nghĩa với việc phải xây dựng một cái gì đó tương tự với cái đầu bị chia rẽ. Bạn phải học về kinh tế vi mô và những cách thức phức tạp mà các nền kinh tế thị trường hoạt động. Rồi sau đó phải đặt toàn bộ những gì bạn đã học sang một bên, hay chính xác là loại chúng ra khỏi đầu óc bạn khi bạn học về kinh tế vĩ mô, thứ chẳng hề để ý đến những cách thức phức tạp mà các nền kinh tế vận động.

Paul Krugman, viết trên tờ Thời báo New York sau hội nghị G20 vào tháng Sáu, đã tỏ ra thất vọng khi cho rằng một cuộc suy thoái mới đang cận kề. Ông than rằng các chính phủ đã “thuyết giáo về việc cần thắt lưng buộc bụng trong khi vấn đề thực sự lại nằm ở chỗ chi tiêu không hợp lý”. Ít nhất bạn cũng có thể nói về Paul Krugman rằng ông ấy đã tỏ ra nhất quán. Ông tin vào cuốn tiểu thuyết với kết thúc cay đắng. Nhưng điều gì đã xảy ra với những nhà kinh tế mà trước đó đã thuyết giảng bằng các cuốn sách giáo khoa của Keynes - những người mà ngày nay lại đang khuyên bảo các chính phủ phải thắt lưng buộc bụng vậy? bây giờ họ sử dụng sách vở nào nhỉ? Thực tế là họ chả có sách nào hết. Có một cuốn sách kinh tế - mà nó có thể được gọi là kinh tế học trước thời Keynes - nhưng chúng ta có thể cho rằng họ chẳng biết gì về nó hết. Họ đang lái máy bay một cách mù quáng và chúng ta tất cả đều là hành khách của họ. Nhưng họ không dám để lộ điều đó bởi chúng ta có thể hoảng sợ, và có lẽ là họ sợ mất đi sự tín nhiệm của chính họ.

Câu hỏi rõ ràng đang nhảy múa trong đầu óc chúng ta là liệu sự thất bại hiển nhiên của các đơn thuốc đi theo trường phái Keynes trong sự trỗi dậy của cuộc Khủng hoảng tài chính toàn cầu có phủ nhận chủ nghĩa Keynes và những kẻ lang băm vô ý thức đã thực hành nghệ thuật hắc ám của chủ nghĩa này hay không.

Nhận thức thông thường (conventional wisdom)


Một câu hỏi hay được trả lời một cách đúng đắn nhất bằng một câu trả lời dứt khoát. Tôi không biết rằng tôi có được một câu trả lời dứt khoát hay không.  Tuy nhiên, rõ ràng là chủ nghĩa Keynes không dễ dàng gì bị đánh bật ra khỏi vị trí của nó, bởi nó là một “nhận thức thông thường” (conventional wisdom) đầy sức mạnh, kiểu mà J.K. Galbraith trong cuốn Một Xã hội phong phú vào năm 1958 đã đề cập đến. Và hơn thế nữa, nó là một nhận thức thông thường được bao quanh bởi một cơ chế tự bảo vệ để chống lại cái mà Galbraith gọi là “sự diễn tiến của sự vật, hiện tượng”.

Galbraith giải thích rằng ngay từ khi được xác lập, các “nhận thức thông thường” này sẽ bám chặt lấy đầu óc người ta. Chúng kháng cự lại những thử thách một cách quyết liệt và không hề hối tiếc.

Những "nhận thức thông thường" này có một nền tảng dẫn luận rộng lớn, thậm chí có được sự thần bí
. Những người bảo vệ "nhận thức thông thường" có thể nói rằng những kẻ dám thách thức "nhận thức thông thường" không hiểu hết sự rối rắm, phức tạp của chúng…”Nhận thức thông thường”, được biến thành một thứ mà ít nhiều đồng nghĩa với sự uyên bác, thực tế là bất khả xâm phạm. Những người hoài nghi chúng đều bị coi là những người chưa đủ trình độ… nếu anh ta là một học giả uyên bác thì anh ta phải là người đứng về phía “nhận thức thông thường”.

Galbraith giải thích rằng chỉ có sự diễn tiến thiếu nhất quán và dai dẳng của sự vật, hiện tượng mới có thể xóa bỏ đi một ‘nhận thức thông thường’ như vậy: “trong khi thế giới tiếp tục vận động thì ‘nhận thức thông thường’ trở nên lạc hậu. Cái chết của ‘nhận thức thông thường’ không xảy ra ngay lập tức. Sự hủy diệt chỉ bùng nổ khi những ý tưởng theo kiểu ‘nhận thức thông thường’ đó thất bại trong việc giải quyết những bất trắc mà sự lạc hậu của nhận thức này đã khiến chúng trở nên không thể áp dụng được một cách hiển nhiên”.

Chắc chắn tình trạng thê thảm xảy ra sau những đối sách kiểu Keynes với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là một  "diễn tiến của sự vật, hiện tượng’"có thể được nhìn nhận khách quan như là sự hủy diệt đối với chủ nghĩa Keynes. Chi tiêu kích cầu của chính phủ đơn giản đã không thể phục hồi sức khỏe của các nền kinh tế và khiến cho các chính phủ chìm đắm trong nợ nần. Nhưng có lẽ người ta đã đánh giá thấp cơ chế tự vệ sẵn có của "nhận thức thông thường". Cơ chế tự vệ này được xây dựng bằng các cán cân quốc gia và mô hình kinh tế vĩ mô. Cơ chế này tỏ ra có hiệu quả, hay ít nhất là cho đến nay nó vẫn có hiệu quả trong việc bảo vệ chủ nghĩa Keynes khỏi sự hủy diệt đó.

Áo giáp chống đạn của trường phái Keynes


Các cán cân kinh tế quốc gia hiện nay đều phản ánh lý thuyết kinh tế theo trường phái Keynes. Cầu dưới dạng tổng chi tiêu (như là chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi tiêu dùng, chi tiêu chính phủ) được đặt ở một bên; tổng sản phẩm nằm ở bên kia. Bất kỳ đồng đô la nào tăng trong tổng chi tiêu (tổng cầu) đều tương ứng với một đồng đô la gia tăng trong tổng sản phẩm quốc gia (GDP).

Hầu hết các phân tích đối với cán cân quốc gia đều thiếu một nhận định sắc về việc làm thế nào để các nhân tố này liên kết với nhau và ý nghĩa của chúng là gì. Các chính trị gia thì luôn có một câu chuyện để mà kể lể. Họ muốn chứng tỏ rằng những hành động của họ, trong đó có bất cứ khoản chi tiêu khổng lồ nào đều có tác dụng tích cực. Tuy nhiên, các nhà kinh tế học cần phải có sự đánh giá các con số một cách rõ ràng hơn và cần đưa ra một quan điểm cân bằng, khách quan. Đơn giản là điều này đã không xảy ra.

Những nhà kinh tế học bên trong và bên ngoài khu vực dịch vụ công đều có xu hướng trình bày các cán cân quốc gia theo giá trị danh nghĩa và thông báo rằng gói chi tiêu kích cầu theo kiểu Keynes đã có tác dụng. Tuy nhiên các cán cân không hề cung cấp bằng chứng nào cho thấy điều này. Đó là một ảo tưởng. Nếu chính phủ chi một đồng đô la thì đồng đô la đó thường được tính bằng một đô la đóng góp vào GDP trong kỳ. Và nó vẫn được tính như vậy cho dù đồng đô la đó được chi cho nhập khẩu và trong thực tế, chẳng đóng góp gì vào tổng sản phẩm quốc gia (GDP).

Tiền lưu chuyển trong hệ thống kinh tế mang tính hoán đổi (bạn không thể phân biệt đồng đô la này với đồng đô la khác). Bởi vậy, bạn có biết được đồng đô la đó được chi tiêu cho nhập khẩu hay chi tiêu cho sản xuất trong nước hay không? Không có cách nào biết được. Nếu đồng đô la đó được chi tiêu hoàn toàn cho nhập khẩu, thì cán cân quốc gia phải cho thấy các bút toán đối ứng trong chi tiêu chính phủ và nhập khẩu. Không có cách nào biết được đồng đô la mà ta đang nói đến có đúng là đồng đô la được tiêu cho nhập khẩu hay không. Thậm chí nếu có đúng như vậy thì các cán cân quốc gia vẫn y như cũ.

Việc chi tiêu chính phủ được tính như là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, thể hiện chính xác đến từng đồng đô la một do vậy trở nên vô nghĩa. Đây là sự thực hiển nhiên do cách thức mà người ta xây dựng các cán cân quốc gia. Nó hoàn toàn không cho thấycác gói kích cầu có hiệu lực, nó chỉ đơn thuần phản ánh phương thức mà các khoản mục của cán cân quốc gia được sắp xếp lại với nhau mà thôi.

Nếu chính phủ tiêu tiền thuế của dân để xây một thư viện trường học chẳng hạn, đó là một chi phí hợp lý, nó có thể coi là một đóng góp vào GDP chính xác đến từng đồng đô la. Nếu như cùng thư viện đó được xây dựng với một chi phí lạm phát thì chi phí đó vẫn được coi là một đóng góp vào GDP chính xác tới từng đồng đô la. Nếu như cùng thư viện đó được người ta phá hủy bằng chi phí từ ngân sách của chính phủ thì thậm chí việc này được ghi nhận như là một đóng góp nhiều hơn vào GDP. Và chưa phải đã hết chuyện. Nếu chính phủ lấy các nguồn lực từ khu vực tư nhân để xây thư viện trường học, hoạt động kinh tế này sẽ được hạch toán, có thể là với một bút toán ghi tăng cho thấy nền kinh tế đang tiết kiệm được một khoản tiền nhờ một bút toán ghi giảm ở khu vực tư nhân mà do chi tiêu của chính phủ. 

Thế giới hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu đang ở trong tình trạng căng thẳng khi các vấn đề về kinh tế trở nên rắc rối hơn nhiều so với những thời kỳ ổn định. Sự trừng phạt dành cho những tư tưởng kinh tế sai lầm có thể khủng khiếp hơn nhiều. Xây dựng và quy đổi ra tiền những diễn giải thiếu cơ sở đối với các con số trong cán cân quốc gia là một việc làm vô ích. Một sự hiểu biết sơ khai về cán cân quốc gia, như được giảng dậy trong các cuốn sách giáo khoa kinh tế cơ bản là tất cả những gì cần có để diễn giải những con số này một cách phù hợp và làm sáng tỏ các cuộc tranh luận về kinh tế.

Không may là các cán cân quốc gia chỉ là một phần trong những rắc rtối của các tranh luận về kinh tế. Khi những nhà kinh tế học của khu vực công quay trở lại với những mô hình kinh tế vĩ mô của mình thì những dằn vặt về sự rõ ràng càng trở nên nhiều hơn và các chính sách kinh tế theo trường phái Keynes tỏ ra thiếu tin cậy.

Cho dù mô hình có phức tạp đến mức độ nào thì nó cũng sẽ dựa trên những công thức trong cuốn sách giáo khoa kinh tế vĩ mô mà ở đó tổng tiêu dùng của khu vực tư nhân cộng với tổng chi tiêu đầu tư tư nhân, cộng với tổng chi tiêu chính phủ, cộng với xuất khẩu trừ đi nhập khẩu thì bằng tổng sản phẩm. Công thức này cũng luôn cho thấy mối tương quan tích cực giữa một mức tăng trong sản xuất và một mức tăng trong việc làm.

Nếu bạn áp đặt lên mô hình này một khoản tăng trong chi tiêu chính phủ thì hiển nhiên công thức sẽ cho thấy một mức tăng trong sản xuất và việc làm. Điều quan trọng là cần phải hiểu rằng tổng việc làm trong thực tế có thể tăng lên hoặc giảm đi nhưng các mô hình thì vẫn cho thấy  việc tăng chi tiêu chính phủ sẽ góp phần tăng trưởng việc làm. Bởi nghịch lý này, cho dù đang ở trong những hoàn cảnh kinh tế hoàn toàn khác biết, cả chính phủ Úc và chính phủ Mỹ đều có thể cho rằng gói kích cầu đã tạo ra rất nhiều công ăn việc làm.

Trong một số các báo cáo ngân sách năm nay, chính phủ Úc cho rằng gói kích cầu đã gia tăng hoặc giữ được 225.000 việc làm. Giữa tháng Bảy, chính phủ Mỹ thông báo rằng gói kích cầu, được khẩn cấp thông qua vào 17/2/2009  nhằm cứu vãn những công ăn việc làm đang bị đe dọa, đã tạo ra hoặc cứu được 3 triệu việc làm. Những việc làm này tại Úc và Mỹ không được điều tra, tính toán và đánh giá một cách thực tế để có thể nói rằng chúng là những con số dương cho thấy mức tăng thực hay không.  Chúng đã nhảy ra nhờ các mô hình kinh tế vĩ mô. Trong thực tế, số công ăn việc làm tăng lên ở Úc kể từ đầu năm 2009 và giảm đi khoảng 2.3 triệu  ở Mỹ (tính từ cuối tháng 2009 cho đến cuối tháng Sáu 2010) không phải là một hệ quả rõ ràng của kích cầu. Dù công ăn việc làm tăng lên hay giảm đi thì cũng chẳng có vấn đề gì cả, gói kích cầu vẫn có hiệu quả. Dù sao thì Christina Romer, người đứng đầu Hội đồng cố vấn kinh tế của Nhà Trắng có vẻ bối rối, ít nhất là trong con mắt của tôi khi thông báo về con số không thể tin nổi 3 triệu việc làm.

Trong thực tế, hoàn toàn chẳng có cơ sở nào cho việc nghĩ rằng chi tiêu kích cầu của chính phủ Úc hay Mỹ đã tạo ra số công ăn việc làm đó. Chúng là những con số viễn tưởng có được sự tin cậy nhờ được đưa ra trong các báo cáo của chính phủ. Các mô hình này không thể dùng để chứng minh rằng một lượng chi tiêu chính phủ nhất định sẽ tạo ra một số công ăn việc làm nhất định nào đó.

Khi lần đầu tiên học thống kê, như hầu hết mọi sinh viên thống kê lúc đó, tôi đã được nghe một ví dụ hài hước về những cái bẫy trong việc đưa ra các kết luận dựa trên mối tương quan. Ví dụ mà tôi được nghe là về quan hệ tỷ lệ thuận rõ ràng giữa con số lễ thụ phong các linh mục tăng lên và số vụ tội phạm đường phố ngày càng tăng.  Ví dụ này minh họa sự ngốc nghếch trong việc lẫn lộn mối quan hệ tương quan với mối quan hệ nhân quả. Tuy nhiên, mọi mô hình thống kê, cho dù phức tạp đến mức nào cũng đều dựa trên các dữ liệu theo chuỗi thời gian hoặc dữ liệu thu thập tại một thời điểm và các mối tương quan của các biến số cụ thể, đo lường tương quan giữa biến này với biến khác để tìm ra mối quan hệ nhân quả có thể xảy ra. Ở đây không có gì khác biệt cả. Hoặc chúng ta biết chính xác rằng một việc này dẫn đến một việc khác (đun nóng nước đến một mức độ nào đó thì nó sôi chẳng hạn)- trường hợp này ta không cần mô hình thống kê nào hết, hoặc chúng ta nghiên cứu các yếu tố nhân quả chưa được nhận biết, dựa trên việc mô hình hóa các mối quan hệ hiển nhiên để đưa ra các công thức ước đoán rằng cái gì có khả năng tạo ra cái gì và ở mức độ nào.

Những nhà khoa học xã hội biết rõ những cái bẫy của việc mô hình hóa và rủi ro của việc rút ra những kết luận sai lầm. Hai biến số dường như có mối quan hệ nhân quả nhưng thực tế lại cùng tương quan với một nhân tố thứ ba và đơn giản chúng chỉ là những người bạn đồng hành, tương tác với nhân tố thứ ba này một cách đồng thời. Trong trường hợp này, mối quan hệ nhân quả có thể biểu hiện rất mạnh song nó lại không tồn tại trong thực tế.  Những ước tính trung bình, không dựa trên mẫu điều tra tỏ ra đặc biệt nguy hiểm. Không có cách nào biết được một mối quan hệ đo lường được qua dữ liệu quá khứ có đủ khả năng giải thích những hiện tượng trong hiện tại hoặc tương lai hay không. Ví dụ, không nghi ngờ gì GDP thực và việc làm tại Úc trong khoảng 10 đến 20 năm gần đâu chẳng hạn, có cùng mối tương quan như là GDP thực và chi tiêu chính phủ. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm vô cùng nếu từ đó rút ra kết luận rằng một mức tăng nào đó trong chi tiêu chính phủ sẽ dẫn đến một mức tăng nhất định trong việc làm. Kinh tế phức tạp hơn thế nhiều, tuy nhiên nó lại chính là điều mà những người theo trường phái Keynes muốn chúng ta phải tiêu hóa. Nếu mà chúng ta tiêu hóa được, thì trường phái Keynes sẽ sống sót qua mọi sự vận động của sự vật hiện tượng: nếu số công ăn việc làm có giảm đi thì lý thuyết kinh tế của Keynes có thể cứu vãn những việc làm và tránh cho mọi điều trở nên tồi tệ hơn; nếu số công ăn việc làm tăng lên, nghĩa là lý thuyết Keynes đã tạo ra công ăn việc làm và giúp nền kinh tế khỏi suy thoái.

Tôi không chỉ nói rằng các mô hình kinh tế vĩ mô là thiếu hoàn thiện mặc dù đúng là như vậy. Chúng không thể khái quát và mô hình hóa được mọi tác động tiêu cực và tàn phá của chi tiêu chính phủ đối với các hoạt động của khu vực tư nhân. Điều mà tôi muốn nói là các mô hình kinh tế vĩ mô không phù hợp với mục đích của những việc mà người ta bắt chúng làm. Chúng sẽ luôn đưa ra cùng một câu trả lời cho dù hoàn cảnh có thay đổi. Chúng được xây dựng để đưa ra câu trả lời phù hợp với chính sách kinh tế của  Keynesian cho dù chúng luôn rơi vào tình trạng bế tắc mỗi khi làm phát sinh những thông tin về thành công hay thất bại của chính sách này .

Vấn đề đặt ra ở đây là cho dù được trang bị một lớp áo giáp chống đạn như vậy, liệu chủ nghĩa Keynes có đầu hàng trước diễn tiến của những sự kiện hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu tại Châu Âu hoặc Mỹ hay không. Sử dụng cách nói của Galbraith là liệu hệ quả suy thoái và nợ nần sau những chi tiêu chính phủ khổng lồ cho việc kích cầu có đủ để chứng minh rằng chủ nghĩa Keynes là “cực kỳ lạc hậu và không thể áp dụng được” hay không. Hãy lặp lại  câu hỏi mà tôi đã đưa ra trước đó: Chủ nghĩa Keynes liệu có bị lật đổ hay không?

Lật đổ chủ nghĩa Keynes


Câu trả lời ngắn gọn là tôi không biết nhưng nó nên được lật đổ.

Những người đi theo trường phái Keynes tin rằng các nền kinh tế bị chi phối bởi lực cầu. Nếu cầu của khu vực tư nhân không đủ họ tin rằng chúng nên được hỗ trợ bởi cầu của chính phủ nhằm đảm bảo có đủ công ăn việc làm. Vấn đề thiết yếu đối với việc lật đổ chủ nghĩa  Keynes - nếu như nó sẽ bị lật đổ -là bắt nó phải chịu trách nhiệm.

Khi các nguồn lực không được sử dụng, những người theo trường phái Keynes tin rằng chi tiêu công sẽ luôn mang lại những kết quả kinh tế có lợi.  Chi tiêu của chính phủ sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến lợi ích kinh tế thực đủ để bù đắp bất cứ chi phí kinh tế thực liên quan nào. Có thể có những chi phí. Bản thân Keynes đã đưa ra khả năng chi tiêu và vay nợ của chính phủ sẽ vượt quá lượng cầu của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, dù có bất kỳ chi phí nào như vậy thì chúng cũng ít hơn lợi ích thu được.

Nếu những người theo trường phái Keynes không tin điều này thì tôi cũng không biết họ tin vào cái gì nữa. Tôi có cảm giác là Paul Krugman tin điều này và có lẽ Geithner cũng vậy. Nhưng còn các chính phủ và các cố vấn kinh tế của họ, những người đang kêu gọi thắt chặt chi tiêu khi các nền kinh tế của họ lâm vào tình trạng suy thoái, với rất nhiều nguồn lực chưa được sử dụng và đang sẵn sàng thì sao? Họ có còn là những người đi theo Keynes nữa không? Họ đang tin vào điều gì vậy?

Nếu chủ nghĩa Keynes thực sự hiệu quả thì nó đã có tác dụng rồi. Những người đi theo trường phái này lẽ ra phải khẳng định một cách chắc chắn rằng mặc dù các chính phủ lâm vào tình trạng nợ nần khắp nơi, các nền kinh tế châu Âu nên được kích cầu hơn nữa.  Họ nên giải thích rằng điều đó sẽ mang lại lợi ích kinh tế ròng và khả năng trả nợ tốt hơn. Nếu họ thực sự thuyết phục thì thị trường chứng khoán sẽ hứng khởi ngay.  Tất nhiên, nhưng điều này chẳng thể xảy ra bởi hầu hết trong số họ đã mất niềm tin vào Keynes dù họ vẫn đang ở trong đống cân đai mũ áo của nó.

Đây là lúc để cởi bỏ đống áo mũ này . Việc này đòi hỏi phải có cái gì đó thế vào chỗ của chúng. Thứ gì đó này là một sự thừa nhận rằng nền kinh tế cần được nhìn nhận như là các nhà kinh tế học trước Keynes đã nhìn nhận nó-như một thể thống nhất và một tập hợp phức tạp các bộ phận có mối quan hệ qua lại lẫn nhau chứ không phải là một tập hợp hạn chế các tổng số mơ hồ.

Khủng hoảng nợ tại Châu Âu và Mỹ là một diễn tiến của sự vật hiện tượng mà lý thuyết của Keynes không có được câu trả lời. Nó đã thất bại trông thấy và cần bị đào thải. Thời đại đã chứng minh sự nghèo nàn của nó. Lý thuyết này vẫn luôn nghèo nàn và yếu ớt nhưng tác động phá hủy của nó lại được che dấu bởi các nhà kinh tế đang ôm khư khư những bằng chứng dối lừa và vô nghĩa về sự thành công của nó; bằng sự linh hoạt của các nền kinh tế thị trường trước hoạt động quản lý kinh tế sai lầm của các chính phủ; và bằng thực tế là kể cả các chính phủ hoang đàng nhất cũng phải mất thời gian mới có thể phung phí được các tài sản giầu có.

Trong kinh tế học, người ta nhận ra rằng các chính phủ có thể thực hiện sự hỗ trợ to lớn và quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế bằng cách bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng khung pháp lý. Chính phủ được coi là đã giương lên một cái ô pháp lý mà các thị trường hoạt động trong phạm vi che phủ của nó. Chính sách kinh tế của chính phủ cũng nên có một sự che phủ tương tự như vậy. Nguyên tắc hàng đầu là phải cung cấp một môi trường linh hoạt, ổn định và hỗ trợ mà trong đó các nền kinh tế thị trường, các hộ gia đình, các doanh nghiệp và người làm công cấu thành nên nền kinh tế đó có thể sinh lợi trong những thời kỳ bình yên và quan trọng nhất là có khả năng điều chỉnh trong những thời kỳ bất ổn.

Kinh tế và chính trị có lẽ đang song hành trong những ngày này. Kinh tế học phải khách quan. Kinh tế học trở nên chủ quan trong tay những người cánh tả, những người đặc biệt ưa chuộng tính cách can thiệp của Keynes. Nếu vậy thì vấn đề không còn đúng hay sai mà vấn đề là nó có thỏa mãn thế giới quan cho rằng chủ nghĩa tư bản cần được các chính phủ hùng mạnh bảo vệ khỏi chính nó. Cuộc khủng hoảng nợ tại châu Âu và Mỹ đã cho thấy bằng chứng rõ ràng rằng bàn tay can thiệp quá mạnh của chính phủ mới là vấn đề và Keyse là một phần của vấn đề đó.

Các nhà kinh tế, đặc biệt là những người hoạt động trong khu vực công, nên quẳng các mô hình kinh tế vĩ mô hiện nay của họ vào thùng rác và có lẽ nên bắt đầu đọc lại các sách giao khoa cũ. Tất nhiên là họ cần xây dựng những mô hình kinh tế vĩ mô gắn với nền tảng kinh tế vi mô chứ không phải như những công trình tách biệt. Chắc chắn việc này sẽ rất khó khăn, trừ khi thành công, việc lật đổ chủ nghĩa Keynes có lẽ cũng giống như lật đổ chủ nghĩa xã hội vậy. Sẽ luôn có sự phản kháng.

Peter Smith

Nguồn : http://www.quadrant.org.au/magazine/issue/2010/9/time-to-topple-keynesian-economics

Mời bạn đọc góp ý kiến




CAPTCHA
 Ý kiến bạn đọc

Đào tạo lái xe, dậy lái xe, nhận hồ sơ lái xe, đào tạo lái xe uy tín,dậy lái xe tại hà nội,dậy lái xe oto

gỗ nhân tạo conwood,gỗ conwood,sàn gỗ ngoài trời,gỗ ngoại thất