|
PGS. TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đưa ra những nhận định về nền kinh tế Việt Nam năm 2010 và những việc cần làm cho năm 2011. Doimoi.org xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Là người đã đề ra quan điểm lấy “ổn định kinh tế vĩ mô làm trọng” và suốt năm 2010, chúng ta đã thấy rằng đó là một quan điểm đúng đắn. Ông đánh giá thế nào về cách điều hành kinh tế vĩ mô trong năm 2010 (năng lực cạnh tranh thực, nợ xấu, chính sách tỷ giá, khả năng giải ngân… cùng với những mục tiêu kinh tế đã được đặt ra đầu năm 2010…) ?
Trước hết, phải nói rằng tôi không phải là người đề ra quan điểm. Đây là ý kiến của nhiều người, tôi chỉ là một trong số đó. Tôi ủng hộ quan điểm Chính phủ cần đặt ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, nhất là khi sự ổn định của nền kinh tế nước ta đang “có vấn đề” và chịu những áp lực gây bất ổn lớn như hiện nay. Tôi nghĩ, Chính phủ ưu tiên nhiệm vụ ổn định vĩ mô chính là cách coi trọng đúng đắn nhất, hợp lý nhất đến mục tiêu tăng trưởng. Vì có ổn định vĩ mô thì lòng tin thị trường mới được củng cố; các doanh nghiệp sẽ yên tâm đầu tư, tạo sức thúc đẩy mạnh mẽ và bền vững cho tăng trưởng.
Trên quan điểm đó mà xét, phải nói rằng năm 2010, mặc dù Chính phủ đã đặt mục tiêu ưu tiên hàng đầu là ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, song thực tế điều hành lại chưa đạt được. Tính nhất quán trong nỗ lực chính sách để đạt mục tiêu ưu tiên chưa được bảo đảm; cách điều hành chính sách, nhất là các chính sách tài chính - tiền tệ nhiều khi còn lúng túng, giật cục, phải dựa nhiều vào các biện pháp hành chính mang tính tình thế hơn là các giải pháp kinh tế bài bản. Sự phối hợp các chính sách, nhất là giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa, còn yếu, hiệu quả chưa cao... Giá cả biến động mạnh, bất thường, lạm phát tăng cao, kéo theo lãi suất cao, tỷ giá “giật cục”... gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và người dân cũng như cho bản thân sự điều hành của Chính phủ. Đây là vấn đề cần được nghiêm khắc mổ xẻ, rút ra những bài học.
Ông đánh giá thế nào về bài toán giữa ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng. Đối với Việt Nam, một mặt phải kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh suy giảm nhưng cũng cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô?
Nền kinh tế cần tăng trưởng cao nhưng trong thế bền vững chứ không phải là cao - bất ổn. Tăng trưởng cao mà lạm phát cũng cao thì người dân không được hưởng bao nhiêu lợi ích do tăng trưởng mang lại. Vấn đề không phải là đối lập hai mục tiêu này mà là ở chỗ phối hợp chúng như thế nào trong cách điều hành chính sách để đạt được lợi ích phát triển tối ưu, tức là lợi ích dài hạn cho nền kinh tế và cải thiện đời sống của người dân.
Để đạt được mục tiêu đó, điểm mấu chốt là phải phân vai hợp lý, định đúng chức năng cho các chủ thể kinh tế trong vận hành thực tiễn. Ví dụ, Nhà nước cũng có chức năng đầu tư tăng trưởng, nhưng Nhà nước phải lo hơn cho mục tiêu tạo lập ổn định vĩ mô. Khi có ổn định vĩ mô thì khu vực doanh nghiệp sẽ yên tâm tin tưởng, phát huy tối đa năng lực đầu tư của mình. Khi đó, nền kinh tế sẽ tăng trưởng cao bền vững trong dài hạn. Ngược lại, nếu Nhà nước chăm lo quá đến đầu tư, cố đầu tư theo kiểu “nước rút” để đạt thành tích tăng trưởng mà sao nhãng chức năng tạo lập và duy trì ổn định vĩ mô thì nỗ lực đầu tư để kéo tăng trưởng như vậy dễ gây bất ổn, gây thiệt hại lớn. Đó là kinh nghiệm của nhiều nước, cũng là kinh nghiệm rút ra từ chính thực tiễn của Việt Nam mấy năm qua.
Có quan điểm cho rằng những bất ổn vĩ mô năm 2010 là do chưa có sự “ăn rơ” giữa CSTT và tài khóa. Ông bình luận ra sao về ý kiến trên?
Không phải hoàn toàn do như vậy. Bất ổn vĩ mô do nhiều yếu tố gây ra, trong đó, có những yếu tố gắn với các điểm yếu cơ cấu bên trong. Nhưng tôi nghĩ tình trạng phối hợp chưa tốt giữa hai nhóm chính sách vĩ mô quan trọng hàng đầu này là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng bất ổn vĩ mô và lạm phát cao trong năm 2010. Chúng ta biết rằng về nguyên tắc, ngân sách cấp tiền cho Chính phủ tiêu, còn ngân hàng thì cung ứng vốn cho doanh nghiệp, cho dân tiêu. Hai kênh này mà phối hợp không tốt, không đồng nhịp, đồng hướng trong các hoạt động cụ thể thì chắc chắn nền kinh tế sẽ bất ổn. Đó là kinh nghiệm mang tính lịch sử thế giới, cũng là kinh nghiệm mà nền kinh tế nước ta trải qua trong mấy năm gần đây.
Năm 2010, chúng ta cố gắng “co kéo” giữ con số lạm phát ở mức 1 con số, và đã không ít lần phải điều chỉnh lên - xuống chỉ tiêu đề ra. Theo ông, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô phải chú trọng vấn đề gì để lạm phát 2011 không có những biến động lớn?
Để lạm phát 2011 không có những biến động lớn và phải kéo được lạm phát xuống - tôi xin nhấn mạnh cả hai vế - độ biến động ít và mức lạm phát thấp, có nhiều việc phải làm. Và phải làm không chỉ cho riêng năm 2011 mà cả sự ổn định vững chắc của các năm sau nữa.
Nhóm việc thứ nhất là khắc phục những điểm yếu cơ cấu bên trong, khôi phục các cân bằng vĩ mô - như cân bằng thu chi ngân sách, cân bằng cán cân thương mại, cán cân thanh toán. Mục tiêu là cải thiện hiệu quả đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh. ICOR mà cứ cao chót vót thì về dài hạn không thể chống bất ổn vĩ mô, kiềm chế lạm phát được.
Để thực hiện được nhóm việc này, phải tính đến những vấn đề rất lớn, rất cơ bản. Ví dụ như phải thay đổi nguyên tắc thu chi ngân sách, kiên quyết từ bỏ chế độ “ngân sách mềm” và chuyển nhanh sang chế độ “ngân sách cứng”. Chỉ có như vậy mới mong nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách, giảm bội chi ngân sách một cách cơ bản và bền vững. Hoặc phải tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển đúng cách một số ngành công nghiệp hỗ trợ để giảm nhập siêu một cách vững chắc... Đây là những việc không phải có thể làm xong trong ngày một ngày hai. Chúng thật sự không dễ làm và cũng không phải làm để gặt hái “nóng” kết quả, để “ăn ngay” trong năm 2011. Nhưng đó là những việc phải làm và phải cấp bách làm ngay.
Nhóm việc thứ hai là nâng cao năng lực điều hành chính sách của Chính phủ, của các bộ, ngành. Quan trọng nhất ở đây là tính bài bản, tính hệ thống trong việc xây dựng và thực thi chính sách, khả năng phối hợp các chính sách - mục tiêu và công cụ, do các bộ, ngành, địa phương khác nhau chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực thi. Kinh nghiệm mấy năm qua, như đã nói ở trên, sẽ giúp ích rất nhiều trong việc cải thiện tình hình.
Điểm tôi muốn nhấn mạnh là hiện nay, cần đặc biệt chú trọng sử dụng các công cụ tài khóa - ngân sách để ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Tôi nghĩ rằng cách chi tiêu ngân sách nhà nước có vai trò rất lớn. CSTT sẽ bị hạn chế phát huy tác dụng trong vai trò kiềm chế lạm phát, thậm chí còn bị triệt tiêu nếu không có sự phối hợp “đồng nhịp” của chính sách tài khóa.
Chúng ta đã nói nhiều tới tái cơ cấu nền kinh tế, và Chính phủ đã khẳng định sẽ xây dựng hẳn một đề án tổng thể về tái cơ cấu kinh tế. Theo Ông, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, tái cấu trúc kinh tế triệt để và hiệu quả sẽ chú trọng đột phá từ vấn đề nào?
Thực chất của tái cấu trúc kinh tế, theo tôi, không có gì khác hơn là thay đổi nguyên tắc và cơ chế phân bổ nguồn lực, để cho các nguồn lực của đất nước được “chảy” vào đúng chỗ (ngành và vùng), đúng lúc và đúng người sử dụng chúng hiệu quả nhất. Câu chuyện bắt đầu từ khâu quy hoạch phát triển tổng thể phải có tầm nhìn tốt và phù hợp với xu thế thời đại. Tiếp đến, quy hoạch đó phải có hiệu lực thực thi chứ không thể bị phá vỡ một cách dễ dàng, vì những lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm mà không ai phải chịu trách nhiệm gì. Khi dòng chảy các nguồn lực đúng hướng thì cơ cấu của nền kinh tế sẽ được “tái cơ cấu” như chúng ta hay nói.
Theo cách tiếp cận đó, có mấy khâu, mấy nhóm việc có vai trò đột phá, theo tôi, cần đặc biệt quan tâm trong thời gian trước mắt. Đó là:
Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng theo quy hoạch tổng thể liên ngành, trong một lộ trình hợp lý. Đường giao thông, cảng biển, hạ tầng đô thị, cung cấp năng lượng là những khâu mấu chốt. Nhưng việc phát triển hệ thống này chỉ tránh được lãng phí, không gây căng thẳng “tắc nghẽn” như thời gian qua chỉ khi nó bảo đảm được tính quy hoạch tổng thể, theo một lộ trình bước đi được thiết kế cẩn thận.
Phân công và phân cấp chức năng - trách nhiệm giữa các bộ, ngành, giữa trung ương và địa phương một cách cụ thể, rõ ràng, phù hợp với năng lực điều hành, trên cơ sở đó, thiết lập cơ chế phối hợp, dựa trên nguyên tắc bảo đảm gắn được chức năng - trách nhiệm và năng lực thực thi; không phá vỡ sự thống nhất quy hoạch, phát huy tốt nhất các năng lực ngành, vùng và địa phương.
“Tái cơ cấu” các tập đoàn kinh tế nhà nước - từ kinh nghiệm của Vinashin; xây dựng cơ chế, bảo đảm sự tiếp cận một cách công bằng đến các nguồn lực và điều kiện phát triển của mọi doanh nghiệp.
Chú trọng phát triển các thị trường đầu vào cơ bản nhưng chưa được phát triển đúng mức và cũng chưa được quan tâm phát triển đầy đủ. Đó là thị trường đất đai và thị trường lao động.
Tất nhiên, còn nhiều việc phải làm, song tôi nghĩ trong 1-2 năm tới, mà năm 2011 phải khởi động thật sự mạnh và sớm, những việc nêu trên. Khi đó, năm 2011 sẽ là năm nền kinh tế bắt đầu cất cánh vào quỹ đạo hiện đại theo đúng nghĩa.
Khó khăn đến cùng với cơ hội, vậy khó khăn và cơ hội cho năm 2011 là gì, thưa Ông?
Cơ hội cho năm 2011 không ít và cũng không nhỏ. Trước hết, đó là đà khôi phục tăng trưởng của thế giới đang có “trớn” tốt. Nền kinh tế nước ta có độ mở cửa - hội nhập lớn nên đây là một thuận lợi rất cơ bản. Thêm vào đó, đà tăng trưởng của nền kinh tế nước ta cũng đang được duy trì tốt. Hai yếu tố tăng trưởng đồng hướng này, khi cộng hưởng với nhau sẽ gây hiệu ứng tích cực mạnh.
Tuy nhiên, trong các yếu tố thuận lợi, tôi muốn nhấn mạnh đến xu hướng chuyển dịch tích cực của nền kinh tế đang được khởi động. Đại hội Đảng XI nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh tái cơ cấu. Những điểm yếu kém cơ cấu bên trong của nền kinh tế cũng đã được nhận diện rõ. Hướng xử lý cũng đang được tích cực tìm kiếm, xác định và ngày càng rõ hơn. Phải coi xu hướng này là một yếu tố mang tính thời cơ, thậm chí, có ý nghĩa quyết định cho bước chuyển mạnh về chất của nền kinh tế trong năm 2011.
Tất nhiên, khó khăn của năm 2011 cũng rất lớn, rất nhiều. Đó là tác động tiêu cực bắt nguồn từ những yếu kém cơ cấu bên trong mà cho đến nay, vẫn chưa được khắc phục, thậm chí vẫn đang rất mạnh. Tình trạng bất ổn, hệ quả của lạm phát cao, lãi suất cao, rủi ro tỷ giá... đang gây khó khăn lớn hàng ngày hàng giờ cho doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Đó là chưa kể đến xu hướng gia tăng nhiều tệ nạn xã hội, đến ảnh hưởng gây bất ổn từ sự xung đột của các nhóm lợi ích, của nạn tham nhũng... Trong khi đó, như chúng ta biết, năng lực xử lý những yếu kém đó không phải cứ muốn là có ngay được.
Năm 2011, như dấu hiệu đầu năm cho thấy, sẽ là năm bất thuận về thời tiết. Thiếu nước, khô hạn và thiếu điện là những nguy cơ lớn đe dọa. Đó là chưa kể các loại thiên tai khác mà như xu hướng nhiều năm cho thấy, có khả năng sẽ khốc liệt hơn.
Chắc chắn, năm 2011 sẽ là một năm không dễ dàng, mang đầy tính thách thức. Mà với những khó khăn, một khi đã được dự báo trước thì không thể để mặc cho chúng diễn ra rồi cuối cùng, khi phân tích nguyên nhân và xác định trách nhiệm, chỉ gói lại trong một câu đơn giản: đó là tại khó khăn khách quan.
Theo ông, kịch bản kinh tế 2011 sẽ phác họa ra sao? Phải chú ý những điểm gì?
Nếu Chính phủ tập trung ưu tiên cao nhất nỗ lực hành động thực tế - của tất cả các bộ, ngành và địa phương - tôi xin nhấn mạnh điểm này - cho mục tiêu ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát thì năm 2011 sẽ có kết quả thật sự tích cực trên cả ba phương diện - không chỉ hai phương diện tăng trưởng và ổn định - mà cả phương diện tạo nền tảng cho công cuộc phát triển dài hạn: chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cất cánh vào quỹ đạo phát triển hiện đại. Tôi muốn lưu ý đến vị trí đặc biệt của năm 2011: năm khởi đầu cho một thời kỳ chiến lược mới của đất nước.
Không có lý do gì mà chúng ta lại không chờ đợi một năm 2011 như vậy!
Thu Trang thực hiện.
|