|
Khi xây dựng một bộ luật, những người thiết kế luật luôn đứng trước tình thế lưỡng lự giữa việc trao thêm quyền cho người dân hay tăng thêm quyền quản lý cho mình. Cho nên, luôn có sự đắn đo giữa hai mục tiêu: phát triển và quản lý nhà nước.
Những năm gần đây, phải nói là Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để một mặt thiết kế hệ thống luật pháp tốt hơn. Thời gian qua, tư tưởng chung của Nhà nước khi xây dựng đạo luật mới là phải phù hợp với những cam kết quốc tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập, đồng thời phù hợp với yêu cầu thúc đẩy cải cách ở Việt Nam. Nếu đã nói đến cải cách, chúng ta đều hướng tới cởi mở hơn trong tất cả các vấn đề về hoạt động kinh tế- xã hội của người dân, tăng thêm quyền của người dân tham gia vào các hoạt động này, vừa cải thiện đời sống của mình, vừa đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Thế nhưng trên thực tế, không phải luôn luôn chúng ta làm được như vậy. Khi thiết kế luật, những người thiết kế luật luôn luôn đứng trước tình thế lưỡng lự giữa trao thêm quyền cho người dân hay tăng thêm quyền quản lý cho mình. Cho nên, giữa hai mục tiêu: phát triển và quản lý nhà nước luôn luôn làm cho người ta đắn đo, cân nhắc.
Trong trường hợp nào, chúng ta quyết tâm đặt mục tiêu phát triển là tối thượng và thiết kế làm sao cho đất nước phát triển được thì chúng ta thiết kế luật theo hướng cởi mở hơn. Còn khi nào chúng ta đắn đo, sợ rằng phát triển đó vượt quá tầm quản lý của nhà nước và nhà nước không theo kịp thì lại muốn tăng cường quản lý nhà nước, dẫn đến tình trạng luật mới đưa ra không tạo được đà cho phát triển. Trong bối cảnh như vậy, từ bên ngoài nhìn vào có thể thấy chúng ta cải cách đưa ra luật mới nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu tự do cao. Vì vậy người ta có thể tính điểm thấp cho tự do kinh tế ở Việt Nam.
Việc nhà nước còn can thiệp nhiều như vậy thể hiện điều gì? Một là, Nhà nước chưa có đủ lòng tin vào xã hội hoặc các doanh nghiệp khác để mở ra nhiều lĩnh vực cho người ta làm và nhà nước rút lui. Một câu thường hay được nói ''vì lĩnh vực này khu vực tư nhân chưa đủ sức làm nên Nhà nước làm''. Cũng có người nói ''khu vực tư nhân chưa sẵn sàng làm''. Một số cơ quan nhà nước vẫn nói, khu vực tư nhân chưa đủ sức. Chính cái đó cũng làm hạn chế tự do kinh doanh đáng kể. Cũng có ý kiến cho rằng, việc nhà quản lý chưa thực sự "mở lòng" đối với doanh nghiệp như vậy một phần vì liên quan đến lợi ích của một bộ phận quan chức. Họ không muốn từ bỏ đặc quyền, đặc lợi từ những dự án lớn. Đấy cũng là một trong những động lực làm cho người ta có thể đắn đo. Nhưng mặt khác, cũng có thể từ nhận thức, góc nhìn nhận của người ta. Ở chỗ họ nghĩ, những việc này nhà nước phải làm, thuộc về quyền lực nhà nước. Đã là quyền lực nhà nước, nhiệm vụ của nhà nước thì tự tay nhà nước phải làm, không để cho người khác. Nhưng trong trường hợp này, nhận thức ở đây phải hiểu quyền lực của nhà nước do nhân dân trao cho. Chứ còn nhà nước, tức là bộ máy mà nhân dân bầu ra để vận hành đất nước, thì do nhân dân bầu ra, giao phó cho họ quyền và trách nhiệm để làm, thay mặt cho nhân dân.
Tuy vậy, không nên quy kết tất cả chỉ vì quyền và lợi cho dù đó đang là vấn đề cực lớn, là gốc của tham nhũng. Lớn đến mức mà nhà nước, xã hội đều coi là quốc nạn, phải có luật chống tham nhũng. Nhưng đối với chúng ta, trong giai đoạn hiện nay tôi nghĩ không chỉ là vấn đề quyền lợi mà còn là vấn đề nhận thức, tư duy. Tự do kinh tế đến đâu, phụ thuộc rất nhiều cả về mặt quyền lợi và tư duy!
Minh Nguyễn
|