Liên hệ
Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Yêu cầu:  
        
Phân tích - Phản biện
Bài toán 2011 cho lạm phát, lãi suất và tỷ giá

Đầu năm 2011, Chính phủ cho biết sẽ đặt vấn đề ổn định vĩ mô làm trọng tâm chính sách, trong đó kiểm soát lạm phát là vấn đề then chốt. Ít tuần sau, lại có thêm yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giảm mặt bằng lãi suất và bình ổn tỷ giá.


Từ những thông điệp chính sách đó, ai cũng đồng ý về ba mục tiêu của chính sách ổn định vĩ mô, nhưng giới chuyên gia kinh tế tài chính trong Chính phủ và cả bên Quốc hội cần bàn tiếp về những vấn đề kỹ thuật của các chính sách, biện pháp phối hợp cần có giữa các cơ quan liên quan.

Làm sao để giảm lãi suất và tỷ giá?

Hiện lãi suất huy động bằng tiền đồng (VND) khó có thể giảm xuống do tác động của việc tăng tỷ giá VND/đô la Mỹ (USD) và lãi suất tiền gửi USD, do tác động của các hành vi và lực đẩy đưa đến ngang bằng lãi suất giữa lãi suất VND và lãi suất USD trong nền kinh tế Việt Nam đang bị đô la hóa trầm trọng:

Lãi suất VND = lãi suất USD + độ điều chỉnh kỳ vọng (%) của tỷ giá VND/USD.

Lấy thí dụ của việc điều chỉnh tỷ giá 9,3% của NHNN (thay đổi tỷ giá liên ngân hàng từ 18.932 đồng đổi một đô la lên 20.693 đồng) sáng 11-2 vừa qua, ta có thể thấy công thức trên dự đoán khá chính xác mức thay đổi của tỷ giá từ vài tháng qua:

Lãi suất huy động VND (14%) = lãi suất USD (4%-5%) + điều chỉnh tỷ giá đã xảy ra (9,3%).

Một cách gián tiếp, ta cũng có thể hiểu rằng lãi suất VND phụ thuộc lãi suất USD và kỳ vọng về mức lạm phát vì khi lạm phát cao hơn có nghĩa là VND sẽ phải mất giá và USD lên giá. Lạm phát gần 12% ở Việt Nam năm 2010 đã cao hơn lạm phát ở Mỹ khoảng 10% và điều chỉnh tỷ giá 9,3% là suýt soát mức khác nhau về lạm phát.

Trong sáu tháng cuối năm 2010, NHNN tăng cung tiền và tín dụng nhanh chóng để làm giảm lãi suất VND, nhưng tác dụng thực tế lại trái ngược vì tăng tiền lại làm tăng kỳ vọng lạm phát cũng như gây thêm áp lực lên tỷ giá trên thị trường tự do. Ngoài ra lãi suất huy động USD lại tăng trong mấy tháng qua do nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế đô la hóa đang rất cao, kết quả là lãi suất huy động VND vẫn khó giảm xuống dưới mức 12-17% của quí 3 năm ngoái.

Ngoài ra, việc sử dụng vốn không hiệu quả và các khó khăn tài chính của các tập đoàn lớn trong thời gian qua làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này cũng làm cho lãi suất trái phiếu khó điều chỉnh giảm.

Nói chung nếu áp lực lên tỷ giá không được ngăn chặn bởi sự giảm bớt tăng cung tiền và tín dụng sẽ khó lòng giải quyết được các bế tắc hiện tại của thị trường tín dụng và hệ thống lãi suất để "khai thông" cho các thị trường chứng khoán và nhà đất cũng như của cả nền kinh tế năm 2011. Chưa kể là tỷ giá của VND nếu lại vượt qua xa mức tâm lý 21.000 đồng/USD có thể làm niềm tin của dân cư, nhất là giới đầu tư, sa sút và có thể tạo ra các thiệt hại tài chính lớn hơn nhiều do "dòng xoáy" lạm phát - tỷ giá gây ra.

Để tóm tắt, chu trình giảm lãi suất huy động VND và ổn định tỷ giá VND/USD phải bắt đầu từ việc giảm lãi suất huy động USD và giảm kỳ vọng lạm phát.

Làm sao để giảm lạm phát dự báo 2011 từ sớm?


Mức lạm phát 1,74% của tháng 1-2011 và dự báo 1,8-2% của tháng 2 cho thấy sẽ khó kiểm soát được lạm phát ở mức 7% cho cả năm nếu đà tăng giá này tiếp tục.

Hàng năm, NHNN thông báo mục tiêu tăng trưởng cung tiền (hay tổng phương tiện thanh toán M2) và mức tín dụng chung cho nền kinh tế. Các con số này được thị trường tài chính hay các bình luận gia theo dõi sát nút hàng tháng để xem đích thực chính sách tiền tệ đang được áp dụng ra sao, thắt chặt hay nới lỏng.

Có thể nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa lượng cung tiền và mức tăng giá hàng tháng với độ trễ 6-7 tháng (thật vậy điều này có thể chứng minh dễ dàng bằng phép hồi quy giữa hai biến số trong vài năm qua hay nhận xét đơn giản trên biểu đồ hàng tháng của 2 biến số này như dưới đây). Ngoài ra để dự báo chính xác hơn, có thể thay đổi kết quả này bằng những điều chỉnh hàng tháng do tác động của những biến số khác biết trước như thay đổi giá xăng dầu, điện nước, lương bổng, nhất là tác dụng do chi tiêu mạnh mẽ vào những dịp lễ Giáng sinh và Tết (từ tháng 12 đến tháng 2).

Thí dụ như chỉ số CPI đã tăng vọt trong quí 4 năm ngoái là do chính sách tăng tín dụng ào ạt trong quí 2 để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 6,5% năm ngoái cũng như ảnh hưởng của chi tiêu cao thường thấy cuối năm. Do chính sách nới lỏng tiền tệ (tăng cung tiền và tín dụng) còn tiếp tục trong quí 3-2010 và các chi tiêu Tết trong tháng 1 và 2 năm nay, CPI được dự báo còn tăng nhanh trong hai tháng đầu năm trước khi giảm bớt tốc độ vào tháng 3-6, áp lực tăng giá có thể giảm bớt sau Tết và cũng do NHNN đã thắt chặt cung tiền hơn từ đầu quí 4 năm ngoái.

So với 12 tháng trước, CPI có thể còn tiếp tục tăng ở mức hai con số trong suốt 10 tháng đầu năm nay, mặc dù NHNN sẽ kìm giữ tăng cung tiền và tín dụng ở mức "vừa phải" hơn như đã tuyên bố, lần lượt là 21-24% và 23%, trong suốt năm 2011. Mặc dù áp lực trên tổng cầu có thể giảm bớt phần nào do sự cố gắng thắt chặt tiền tệ của NHNN, tuy nhiên ý kiến riêng của chúng tôi là sự thắt chặt này vẫn chưa đủ do mức tăng tiền tệ từ năm 2010 đã quá lớn. Ngoài ra chúng tôi còn dự báo mức tăng giá xăng dầu và hàng hóa từ bên ngoài nhất là lương thực - thực phẩm sẽ gây áp lực mới đáng kể trong năm nay. Do đó trong các bảng 1 và 2, mức dự báo lạm phát cuối tháng 12-2011 có thể lên tới 9% (so với cùng kỳ năm trước).


Theo phân tích của chúng tôi, phải giảm mức tăng M2 xuống còn 15-16% và mức tăng tín dụng xuống còn 18-20% nếu muốn kiểm soát lạm phát hữu hiệu trong suốt năm và đưa nó về mức 6% vào cuối năm 2011, dựa vào mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 6-7% (thay vì 7-8%) và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế cho năm 2011 (tức là chặn hẳn sự thâm hụt vào quỹ dự trữ ngoại hối như trong hai năm qua).

Để giảm lạm phát 2011 xuống còn 6%


Trong bảng 3, chúng tôi trình bày cách kiểm soát mức giá tăng hàng tháng để có thể thực hiện được mức lạm phát cả năm là 6% vào cuối tháng 12-2011 so với 12 tháng trước. Muốn đạt được các mức này, NHNN phải kiểm soát chặt chẽ mức cung tiền và tín dụng hàng tháng như đã trình bày ở trên, ngoài ra cần đến sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính để kiểm soát chi - thu ngân sách hàng tháng.

 


Vấn đề giảm chi trong chính sách tài khóa và nhất là đầu tư công sẽ đóng vai trò thiết yếu trong chương trình giảm lạm phát tương lai. Vì mặc dù mức lạm phát đã cao tới gần 12% trong năm 2010, mức giá chung đã được kìm giữ phần nào nhờ các chi tiêu thường xuyên của ngân sách để hỗ trợ giá xăng dầu và nhất là giá điện dưới mức thị trường chung trong vùng (giá xăng và điện ở Việt Nam đang được coi như ở mức rẻ nhất so với các nước chung quanh). Nếu trong tương lai vẫn giữ các giá này, mức chi tiêu thường xuyên trong ngân sách sẽ tăng cao, và để giảm tỷ lệ bội chi so với GDP bắt buộc phải giảm bớt mức đầu tư công trong vài năm tới.

Quan trọng hơn, trong bối cảnh đó, chính sách tài khóa cần được xây dựng bởi một ủy ban liên bộ để đảm bảo tính kỷ luật hơn so với thời gian qua, cụ thể là giảm thâm hụt tài chính tổng thể hàng năm bằng cách giảm tỷ lệ đầu tư/GDP. Như vậy, tỷ lệ này có thể được đưa xuống khoảng 39% vào năm 2011 và dần giảm một điểm phần trăm (1%) mỗi năm trong kế hoạch năm năm tiếp theo đến khoảng 35% vào năm 2015. Dựa trên tỷ lệ này, các khoản thu chi hàng năm của Chính phủ cần phải được xác định một cách chi tiết bởi Ủy ban liên bộ và Bộ Tài chính, trong sự nhất quán với các mục tiêu tín dụng trong nước hàng năm nêu trên của NHNN. Việc giảm đầu tư công cũng nhằm mục đích chủ yếu là nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng cách giảm hệ số ICOR cao hiện nay.

Thiếu các chính sách hỗ trợ này, việc điều chỉnh tỷ giá riêng lẻ như trong tuần rồi sẽ thất bại vì sẽ gây ra lạm phát nhiều hơn và sau đó lại cần điều chỉnh tỷ giá mới do chuỗi xoáy liên hệ lạm phát - tỷ giá. Mặt khác, do mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam thấp nên không đủ để cố định tỷ giá hiện hành cho hơn một vài tháng.

Kết luận


Năm ngoái, lạm phát có thể thấp hơn mức hai con số nếu các mức cung tiền M2 và tín dụng được tính toán thích hợp hơn với mục tiêu tăng trưởng GDP và cán cân thanh toán (kiềm chế mức giảm dự trữ ngoại hối). Vì vậy trong năm nay, nên thành lập một ủy ban liên bộ để cùng các chuyên viên NHNN và Bộ Tài chính tính toán các dòng lượng tiền tệ và tài khóa ngay từ sớm để đề xuất với Chính phủ và Quốc hội nhằm tiến tới việc kiểm soát lạm phát hiệu quả hơn.

 

Mô hình đơn giản để kiểm soát cung tiền

Chúng ta cần xét khung kinh tế vĩ mô cơ bản dưới đây cho một nền kinh tế để xác định mối tương tác giữa 4 khu vực chính và tính toán mức cung cho tổng phương tiện thanh toán (M2-money supply) và tín dụng (DC-domestic credit) cần thiết để thực hiện các mục tiêu vĩ mô thông dụng: tăng trưởng (GDP thực), lạm phát (CPI) và cán cân thanh toán (mức tăng hay giảm lượng dự trữ ngoại hối):


•         Khu vực sản xuất kinh doanh: GDP, Giá cả
•         Khu vực Tài khoá: các tài khoản của Chính phủ
•         Khu vực tiền tệ:  Dòng tài chính M2 và DC
•         Khu vực kinh tế đối ngoại:  Cán cân thanh toán, Nợ công, mức Dự trữ ngoại hối

Đặc biệt cho lưu tâm của chúng ta trong bài này, các dòng tài chính trong khu vực tiền tệ và tác động lên các khu vực khác được chỉ ra một cách đơn giản như sau: cung tiền hay tín dụng được tăng nhanh thái quá trong năm so với GDP thực sẽ gây áp lực lên giá cả và làm tăng nhu cầu nhập khẩu, từ đó sẽ gây ra thâm hụt trong cán cân thương mại và vãng lai và sau đó là thâm hụt trong cán cân thanh toán quốc tế gây nên mất bớt dự trữ ngoại hối.


Thí dụ với các dữ kiện thống kê của năm 2010 vừa qua, muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng khởi đầu là 6,5% và kiềm chế lạm phát ở mức được Quốc Hội duyệt lại là 8% (lúc đầu là 7%), theo tính toán của chúng tôi, NHNN chỉ cần tăng cung tiền M2 là 20% và tín dụng trong khoảng 22-23%. Cuối năm 2010, mức tăng thật sự của tín dụng do NHNN mới công bố là trên 29,8% và cung tiền M2 là 27% đã có tác dụng không nhỏ (tác dụng cầu kéo - demand pull) đến mức lạm phát là 11,75% cho năm ngoái, ngoài các yếu tố tăng giá từ bên ngoài (tác dụng chi phí đẩy - cost push) do giá nhập khẩu cũng tăng nhanh trong quý 4.


Phạm Đỗ Chí

Ông Phạm Đỗ Chí hiện là chuyên gia kinh tế trưởng, trưởng bộ phận nghiên cứu và quản lý thị trường rủi ro của VinaCapital. Trước kia ông từng là chuyên viên cao cấp về đầu tư và chuyên gia kinh tế cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Washington DC và là Phó giáo sư thỉnh giảng của chương trình MBA tại ĐH Hoa Kỳ. Trước khi tham gia VinaCapital, ông từng là cố vấn cao cấp về ngân hàng quốc tế và tham gia trợ giúp tái cấu trúc ngành ngân hàng ở Lào. Ông có bằng cứ nhân về Kinh tế của ĐH Laval (Canada), bằng thạc sỹ và tiến sỹ Kinh tế của Trường Wharton, ĐH Pennsylvania.

_SENDTOFRIENDGửi cho bạn bè  _PRINTNEWSIn tin này
[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Chủ nghĩa Truyền thống trong một Thế giới thay đổi (02/03/2011)
  •  
  • Xây dựng hệ thống luật cho tự do kinh doanh (01/03/2011)
  •  
  • Tại sao chúng ta nghĩ họ ghét chúng ta: Hình dung đạo đức và Khả năng hòa bình (21/02/2011)
  •  
  • Tăng tỷ giá: Bình ổn hay thách thức lạm phát? (21/02/2011)
  •  
  • Liệu thị trường tự do có làm xói mòn đạo đức? (15/02/2011)
  •  
  • Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế (14/01/2011)
  •  
  • Nghịch lý từ cái bóng nhập siêu Trung Quốc (30/12/2010)
  •  
  • Việt Nam trước dòng thác công nghiệp của Trung Quốc (21/12/2010)
  •  
  • Thời điểm lật đổ trường phái kinh tế học của Keynes (21/11/2010)
  •  
  • Vấn đề vàng - đô la: dấu hiệu khủng hoảng tài chính đang tới ? (17/11/2010)
  •  
  • Để có nhà nước pháp quyền đích thực (30/09/2010)
  •  
  • Giáo sư đại học Mỹ bàn về mô hình mới cho Việt Nam (29/09/2010)
  •  
  • Mười năm thị trường chứng khoán Việt Nam: Hy vọng ở tương lai (30/08/2010)
  •  
  • Mười năm tới, kinh tế tư nhân Việt Nam vẫn đang học việc (30/08/2010)
  •  
  • Tự do thương mại (12/08/2010)

  •   Mời bạn đọc góp ý kiến



    CAPTCHA
     Ý kiến bạn đọc

    Bạn đọc: Phan Bảo Lâm(email:phanbaolam@gmail.com) gửi ngày: 19/03/11


    GDP thực = Tổng giá trị nội địa + Tổng giá trị xuất khẩu - Tổng giá trị nhập khẩu. GDP thực chia GDP thực của năm ngoái (điều kiện lạm phát 0%, tỷ giá ngoại hối không đổi) nếu lớn hơn 100% thì khoản lớn hơn ấy là tốc độ tăng GDP thực. Nếu lạm phát tăng thì trừ vào tổng giá trị nội địa. Nếu tỷ giá tăng thì giá trị xuất khẩu giảm trên 1 đơn vị sản phẩm (tăng sản lượng lên mới thu được đúng số tiền trước khi phá giá hay người lao động phải làm việc nhiều hơn nhưng tiền lương không đổi tức là giảm giá trị lao động) và giá trị nhập khẩu tăng trên 1 đơn vị nhập khẩu (nhập khẩu không thay đổi về lượng nhưng giá trị nhập khẩu vẫn tăng). Tất cả tính toán trên chưa tính đến yếu tố tăng giảm giá ở bên ngoài lãnh thổ VN. Nếu nước xuất khẩu vào VN có lạm phát thì giá trị nhập siêu còn tăng lên nữa dù số lượng nhập khẩu vẫn không tăng. Ta nhập siêu từ TQ chiếm 70% tổng nhập siêu thì cũng nhập khẩu luôn 70% giá trị lạm phát của TQ.

    Do Tổng giá trị nhập khẩu - Tổng giá trị xuất khẩu luôn là con số âm (nhập siêu mà), nên GDP thực chia cho GDP thực năm ngoái mà lớn hơn 100% thì ta biết là chúng ta phát triển (theo chiều rộng chú trọng số lượng bù cho sự phá giá và lạm phát) rất nóng. Phát triển nóng theo chiều rộng thì ICOR luôn tăng dù không có tham nhũng tiêu cực, dù DNNN cũng hiệu quả như DNTN, dù đầu tư công hiệu quả và tiết kiệm,..... huống chi là ngược lại. Nói cách khác, ta càng phát triển thì càng ...lỗ. Để bù lỗ thì lại phá giá, lại phát hành tiền cung ứng vốn cho cho cái sự tăng "nhiệt độ" ấy, càng lạm phát thêm.

    Cái vòng lẩn quẩn ấy không lặp đi lặp lại mãi được vì cái gì cũng có giới hạn của nó. Để phá giá công lao động thì phải có người chịu hưởng mức lương thấp chớ. Những người ấy là ai ? Là lao động chưa qua đào tạo (hay lao động phổ thông). Lao động phổ thông ngày càng hiếm, ngày càng nhiều doanh nghiệp kêu ca không tuyển đủ lao động phổ thông. Tiền lương mà lao động phổ thông nhận được cũng tương đương với làm thuê lặt vặt tại địa phương thì đi làm công nhân làm gì vừa xa nhà vừa tốn tiền tàu xe, tiền tích lũy chả đáng bao nhiêu vì mức tiêu dùng của xã hội tăng hơn thu nhập của họ. TQ ngày càng hiếm lao động giá rẻ (so với mức thu nhập chung ở TQ) thì VN có khác gì đâu.

    Sự phát triển theo chiều rộng đã đạt đến giới hạn không thể vượt qua (vẫn tồn tại được nhờ mỗi năm có thêm hàng triệu lao động mới do bùng nổ dân số trong quá khứ) nhưng những giá trị khác thì vẫn tiếp tục tăng giảm theo "quán tính" tất nhiên phải có thời điểm bùng nổ. Chênh lệch tỷ giá ngoại tệ chợ đen và Nhà nước châm ngòi cho sự bùng nổ ấy. Nếu không đi ngay vào phát triển kinh tế theo chiều sâu thì những năm sau, tăng trưởng GDP sẽ chỉ là dương ảo và âm thực. Lạm phát phi mã là tất yếu. Nếu ta phát triển theo chiều sâu, cụ thể là nâng GTGT của toàn xã hội lên 10% thôi thì nền kinh tế sẽ lại có "mặt bằng" mới để phát triển lại từ đầu ...theo chiều rộng với tổng giá trị cao hơn. Nền kinh tế Hàn quốc là nền kinh tế chú trọng phát triển theo chiều sâu ở 1 số ngành kinh tế trọng điểm, luôn tạo "mặt bằng" mới dù "mặt bằng" cũ chưa phát triển đến mức tối đa. Chúng ta thì đã phát triển tối đa ở "mặt bằng" GTGT thấp và đang lúng túng không biết làm thế nào để tăng GTGT lên tạo ra "mặt bằng" mới.

    "Quả bóng" hiện không nằm trong "chân" của Ngân hàng Nhà nước và các doanh nghiệp trong nước mà nằm trong "chân" của Chính phủ và Quốc hội, 2 "ông" này cứ chuyền qua chuyền lại với nhau, chả "ông" nào chịu "sút". Để tăng GTGT lên x% tức là tăng theo chiều sâu x% thì phải có chính sách kinh tế phù hợp có tính đột phá chớ không thể làm theo lối mòn lâu nay vẫn làm.


     

    ©2009 Đổi mới và Phát triển & Atlas Economic Research Foundation.

    Ghi rõ nguồn "Doimoi.org" khi phát hành lại thông tin từ website này.

    Email: info@doimoi.org

    Lượt truy cập: 1467371
     

    doimoi.org

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may tinh xach tay, May tinh xach tay, May Tinh Xach Tay

    may anh so,May anh so,May anh kts, May Anh So

    may cham cong, May cham cong

    san go ngoai troi, san be boi cao cap, san be boi, hang rao go, san sieu chiu nuoc