Trung Quốc cải cách DNNN: Việt Nam tham khảo thế nào?

Trung Quốc đang đi đúng hướng nhưng quá trình cải cách DNNN rất khó khăn bởi nó liên quan đến các tập đoàn lợi ích, các vấn đề dân sinh.


PGS Nguyễn Huy Quý, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc trao đổi với Đất Việt về động thái cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trên quy mô lớn của Trung Quốc. 

PV: - Trung Quốc đang có kế hoạch sáp nhập các DNNN cùng ngành trong lĩnh vực năng lượng, tài chính, viễn thông và các ngành công nghiệp có tầm trong quan trọng chiến lược khác. 

Theo ông, động thái này sẽ gây ra những biến động như thế nào? Nếu việc này được thực hiện xong, nó sẽ giúp cho kinh tế nước này tiến nhanh tới giai đoạn bình thường mới ra sao?

PGS Nguyễn Huy Quý: - Cải cách DNNN làm trọng tâm của cải cách kinh tế Trung Quốc. Nó xuất phát từ thực trạng các ngành trong lĩnh vực năng lượng, tài chính hay một số ngành khác bị phân tán, cơ cấu sản xuất của các ngành cũng thay đổi.

Ví dụ, Trung Quốc có các công ty sản xuất ô tô nhiều nhất thế giới, hơn cả Nhật Bản, Đức, Mỹ nhưng lại đầu tư dàn trải, trùng lặp và chất lượng không cao. Do đó Trung Quốc cần tập hợp, tổ chức lại ngành ô tô theo hướng hiện đại để tập trung vốn, năng lực kỹ thuật và tinh giản cơ cấu sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. 

Ở các nước tư bản, quá trình sáp nhập, góp vốn, liên doanh diễn ra thường xuyên, riêng đối với DNNN, Nhà nước phải có quy hoạch. Việc này nằm trong nhiệm vụ chung được Trung Quốc đề ra trong Nghị quyết Hội nghị TƯ 3 cuối năm 2013.

Trung Quốc đang đi đúng hướng. DNNN vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Trung Quốc, do đó, nếu họ sắp xếp lại các DNNN một cách khoa học hơn thì sẽ thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế, tạo ra nền sản xuất hợp lý hơn, khắc phục được phần nào tình trạng sản xuất thiếu tổ chức, sản xuất thừa, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Cải cách DNNN là vấn đề quan trọng, đồng thời rất khó khăn bởi nó liên quan đến các tập đoàn lợi ích, các vấn đề dân sinh. Trong nền kinh tế chuyển đổi, vừa phải hiện đại hoá sản xuất, vừa phải đảm bảo việc làm, đời sống cho người lao động.

Cần phải nói thêm rằng, xây dựng nền kinh tế theo hướng XHCN chưa có tiền lệ thành công trong lịch sử. Trung Quốc dù đã giành được một số thành công trong quá trình cải cách, cổ phần hoá... nhưng nhiều vấn đề vẫn tồn tại.

Đây là một phần của giai đoạn đau đớn để tiến tới giai đoạn bình thường mới, và như tôi từng nói, nó giống như cơn đau đẻ, phải có sự hy sinh, chọn lọc như loại bỏ một số ngành, sáp nhập...

Đặc trưng của giai đoạn bình thường mới là tốc độ tăng trưởng hợp lý, kinh tế được tái cơ cấu hợp lý, sản xuất dư thừa được giải quyết và thị trường đóng vai trò quyết định trong phân bổ nguồn lực. Nỗ lực cải cách DNNN của Trung Quốc cũng nhằm mục tiêu tiến tới xác lập một nền kinh tế như vậy. Tuy nhiên, tất cả vẫn đang trong quá trình thực hiện, thành công đến đâu còn phải đợi.

PV: - Cùng với động thái cải cách DNNN trên quy mô lớn, từ đầu tháng 3/2015, Ngân hàng TƯ Trung Quốc còn hạ lãi suất cho vay và tiền gửi để kích thích sản xuất trong nước, đồng thời tạo điều kiện cho hàng hoá Trung Quốc xuất khẩu dễ dàng hơn. Ông nhận định như thế nào về các bước đi của Trung Quốc? Với những động thái này, ông dự đoán, thời gian tới giai đoạn bình thường mới của Trung Quốc sẽ kéo dài bao lâu?

PGS Nguyễn Huy Quý: - Kéo dài bao lâu thì không biết nhưng đây là bước đi đúng hướng và cần thiết. Không chỉ Trung Quốc, bây giờ hầu hết các nước đều có xu hướng nới lỏng tài chính tiền tệ (Nga, Mỹ...). Riêng Trung Quốc, họ đang chịu sức ép tốc độ kinh tế bị chững lại, các nhà sản xuất thiếu niềm tin và thiếu vốn, khó khăn trong giải quyết tài chính, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. 

Khi Trung Quốc nới lỏng tài chính như vậy, về mặt đối nội sẽ kích thích sản xuất trong nước, nếu không họ phải bỏ ra hàng nghìn tỷ Nhân dân tệ để cứu trợ. Trong năm khủng hoảng tài chính 20008, Trung Quốc đã phải giải ngân gói kích thích trị giá 4.000 tỷ Nhân dân tệ để cứu trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, bây giờ người ta không làm thế bởi dễ dẫn đến lạm phát. Thay vào đó, Trung Quốc hạ lãi suất để người ta không gửi nhiều tiền vào ngân hàng lấy lãi mà đưa tiền đó vào sản xuất. Tương tự, lãi suất cho vay thấp cũng có lợi cho doanh nghiệp.

Về đối ngoại, nới lỏng tài chính có lợi cho xuất khẩu của Trung Quốc. Năm 2014 là năm tỷ lệ xuất khẩu đóng góp vào GDP Trung Quốc thấp nhất từ trước đến nay, chỉ khoảng 15%, không có lợi cho việc duy trì tốc độ phát triển. Do đó, Trung Quốc muốn khuấy động sản xuất trong nước, đồng thời tạo điều kiện xuất khẩu.

PV: - Cũng đang trong giai đoạn cải cách DNNN, liệu Việt Nam có thể tham khảo được gì từ cách làm của Trung Quốc hay không và vì sao?

PGS Nguyễn Huy Quý: - Với cơ cấu kinh tế nói chung, Việt Nam nên phát triển theo chiều hướng như vậy nhưng cụ thể từng ngành thế nào thì không thể nói trước vì tuỳ thuộc vào thực trạng, yêu cầu của mỗi ngành.

Tuy nhiên, với động thái nới lỏng tiền tệ, Việt Nam cũng cần tích cực thực hiện bởi chúng ta cũng đang cần thúc đẩy sản xuất, nâng chỉ số GDP lên. Thực ra, việc hạ lãi suất không phải bây giờ Việt Nam mới làm mà đã làm một cách táo bạo trong năm 2013-2014. Đây là việc làm đúng hướng của NHNN Việt Nam, góp phần thúc đẩy sản xuất nhưng cũng cần dừng đúng chỗ. Hiện lãi suất của Việt Nam vẫn còn tương đối cao so với một số nước nhưng nền kinh tế của Việt Nam yếu hơn. 

Ở Việt Nam có 2 vấn đề: khó khăn của doanh nghiệp không chỉ là vấn đề vốn. Bây giờ tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn rồi nhưng nhiều doanh nghiệp không vay vì lưu thông mới là khâu quan trọng. Trọng tâm của Việt Nam hiện nay là phải giải quyết vấn đề đầu ra của nền sản xuất.

Cho nên, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ cách làm của Trung Quốc vì thực trạng nền kinh tế của họ cũng tương đồng với ta, nhưng áp dụng cụ thể thì phải khác.

PV: - Việc cải cách DNNN trên quy mô lớn của Trung Quốc tác động tới Việt Nam ra sao khi trong giai đoạn chuyển mình sang nền kinh tế sử dụng công nghệ cao, hiện đại hơn, có hiện tượng Trung Quốc tuồn "rác công nghệ" sang các nước phát triển kém hơn, trong đó có Việt Nam? 

PGS Nguyễn Huy Quý: - Quá trình cải cách DNNN của Trung Quốc dĩ nhiên có tác động đến Việt Nam nhưng tác động đến mức độ nào còn tuỳ ở chính Việt Nam. Hiện tượng 'tuồn rác công nghệ" sang các nước phát triển kém hơn là bài học muôn thuở đã diễn ra từ nhiều năm trước chứ không phải bây giờ mới có. 

Quá trình tái cơ cấu kinh tế cũng là quá trình chọn lọc các mô hình phát triển và các hạng mục về khoa học công nghệ, bởi vậy không tránh khỏi việc đào thải công nghệ cũ. Các nước phát triển qua hình thức đầu tư hoặc thương mại chuyển công nghệ cũ vào các nước vùng ven. Việt Nam đã có bài học này và bây giờ, hơn bao giờ hết phải nhớ kỹ bài học đó để chọn lọc hạng mục hợp tác với Trung Quốc.

Trung Quốc chiếm tới 90% các gói tổng thầu EPC tại Việt Nam. Cái gì hai bên đã cam kết rồi thì phải thực hiện, còn từ nay về sau, trong quá trình ký các hiệp định về đầu tư thương mại phải đặc biệt chú ý về công nghệ.

Trung Quốc thường nói với Việt Nam họ dùng công nghệ rất cao và thực tế họ cũng dùng công nghệ của Nhật, Mỹ... nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Bởi số nắm được công nghệ đó phụ thuộc vào khả năng kỹ thuật của họ và số đó chỉ là một phần trong cơ cấu kinh tế Trung Quốc mà thôi.

Khi hợp tác với Việt Nam, Trung Quốc không đẩy phần công nghệ cao đó tham gia mà đẩy các phần khác. Một ví dụ thấy rõ là kỹ thuật làm đường cao tốc của Trung Quốc không thua các nước Nhật, Mỹ, đường đi Thiên Tân, Thượng Hải.... được làm rất hiện đại nhưng họ không sử dụng kỹ thuật hiện đại đó sang Việt Nam. Bởi vậy, Việt Nam phải hết sức cảnh giác.

Thành Luân (theo Đất Việt)

Mời bạn đọc góp ý kiến




CAPTCHA
 Ý kiến bạn đọc

gỗ nhân tạo conwood,gỗ conwood,sàn gỗ ngoài trời,gỗ ngoại thất

máy phát điện,máy phát điện dân dụng, máy phát điện gia đình, máy phát điện nhập khẩu