Phỏng vấn Milton Friedman

Doimoi.org xin giới thiệu bài phỏng vấn Milton Friedman của Brian Snowdon, Howard Vane và Peter Wynarczyk vào năm 1993.



Milton Friedman
 sinh tại New York, năm 1912. Ông lấy bằng BA tại đại học Rutgers năm 1932, trước khi lấy MA tại đại học Chicago và PhD tại đại học Columbia vào năm 1946. Từ 1946 đến 1977 (năm ông về hưu) ông giảng dạy tại đại học Chicago và đi diễn thuyết tại nhiều đại học trên thế giới. Hiện ông là Senior Research Fellow tại Hoover Institution (đề tài nghiên cứu: chiến tranh, cách mạng và hòa bình) tại đại học Stanford, California.Milton Friedman là nhà kinh tế còn sống nổi tiếng nhất của thế giới và có danh tiếng quốc tế không ai phủ nhận như là một nhà kinh tế cũng như một nhà luận chiến. Năm 1976, ông được giải kinh tế Nobel. Những quyển sách nổi tiếng của ông gồm có: Essays in Positive Economics(University of Chicago Press, 1953), Studies in the Quantity Theory of Money (University of Chicago Press, 1956), A Theory of the Consumption Function (Princeton University Press, 1957), Capitalism and Freedom (University of Chicago Press, 1962), A Monetary History of the United States, 1867-1960 (Princeton University Press, 1963), Free to Choose (Harcourt Brace Jovanovich, 1980) với sự cộng tác của bà vợ Rose Friedman, Monetary Trends in the United States and the United Kingdom (University of Chicago Press, 1962) với sự cộng tác của Anna Schwartz, và Monetarist Economics (Basil Blackwell, 1991).






Trong vô số những bài viết của ông, được biết đến nhiều nhất là: "The Methodology of Positive Economics", in Essays in Positive Economics (University of Chicago Press, 1953), "The Quantitative Theory of Money: A Restatement", in Studies in the Quantity Theory of Money (University of Chicago Press, 1956), "The Role of Monetary Policy", American Economic Review (1968) - bài diễn văn tại Hội kinh tế Mĩ, "A Theoretical Framework for Monetary Analysis", Journal of Political Economy (1970), và "Inflation and Unemployment", Journal of Political Economiy (1977) - diễn văn tiếp nhận giải Nobel.

Cuộc trao đổi thư từ với giáo sư Friedman diễn ra trong tháng hai 1993.

Tại sao giáo sư nghĩ rằng có một sự đồng thuận giữa các nhà kinh tế về kinh tế học vi mô cao hơn là về kinh tế học vĩ mô?Chủ yếu vì trong kinh tế học vi mô không xảy ra điều gì tương tự như cuộc cách mạng keynesian trong kinh tế học vĩ mô. Một thời gian, người ta có thể nghĩ là những phát triển về cạnh tranh không hoàn hảo của Chamberlain và Robinson sẽ có một vai trò tương tự trong lĩnh vực kinh tế vi mô, song những phát triển này nhanh chóng được hoà vào khuôn khổ truyền thống của kinh tế học vi mô, như được Marshall định nghĩa trong tác phẩm Principles của ông. Một lí do thứ hai là những vấn đề - đã khai sinh ra cuộc cách mạng keynesian - việc làm/thất nghiệp và những biến động chu kì trở thành những vấn đề chính trị quan trọng. 



Đặt những mô hình kinh tế vĩ mô trên cơ sở lí thuyết kinh tế vi mô về những lựa chọn có phải là một điều quan trọng không?
Tôi nghĩ rằng đặt những mô hình kinh tế vĩ mô trên cơ sở lí thuyết kinh tế vi mô về những lựa chọn là không quan trọng bằng việc phát biểu những kết luận thực nghiệm có thể phản bác được. Lí thuyết kinh tế vi mô về những lựa chọn có thể cho được những giả thiết giúp cải tiến các mô hình kinh tế vĩ mô, nhưng những mô hình kinh tế vĩ mô then chốt đã có từ lâu và chúng đã thành công trước khi có việc nhấn mạnh mới đây muốn đặt chúng trên những cơ sở của lí thuyết kinh tế vi mô.

Đâu là những bài/sách đã có một ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển tư tưởng của giáo sư về kinh tế học vĩ mô trong 25 năm qua?Như tôi đã viết trong một bài bình luận một buổi họp của American Economic Association năm 1974, "nói chính xác điều gì "chúng ta" - tức giới những nhà kinh tế - đã học được từ 200 năm qua dễ hơn là nói điều gì chúng ta đã học được từ 25 năm nay" ["Twenty-five Years after the Rediscovery of Money: What Have We Learned? Discussion", American Economic Review, Papers and Proceedingss, 65 (May 1975)]. Ảnh hưởng chính trên tư tưởng của tôi về kinh tế học vĩ mô trong 25 năm qua chủ yếu đến từ việc tích lũy những dữ kiện và nghiên cứu trên nhiều nước khác nhau về quan hệ giữa các đại lượng tiền tệ và những đại lượng khác, hơn là từ bài viết hay sách xuất bản trong thời kì đó. 

Giáo sư đã học tại Chicago vào đầu thập niên 1930. Lí thuyết tổng quát của Keynes đã được các nhà kinh tế Chicago tiếp đón như thế nào và đặc biệt cảm tưởng đầu tiên của giáo sư là sao?


John M. Keynes (1883-1946)


Lí thuyết tổng quát
 của Keynes được xuất bản sau khi tôi đã học xong ở Chicago. Niên khoá đại học cuối cùng tôi trải qua như là một sinh viên ở Chicago là 1934-1935. Vậy mà Lí thuyết tổng quát  của Keynes được xuất bản năm 1936. Quyển sách của Keynes chúng tôi đã học là A Treatise on Money. Tôi không có thể đoan chắc những cảm tưởng đầu tiên của tôi. Ngược lại tôi biết rằng vào đầu thập niên 1940, tôi có làm một bài trình bày về phân tích keynesian trong đó tôi tỏ ra rất phê phán. Nhưng năm 1942, tôi cho đăng một phân tích về vấn đề lạm phát trong thời chiến rất là keynesian - xem Essays in Positive Economics, 1953, Chicago University Press, trang 251-62, đặc biệt trang 253, n02.

Giáo sư có nghĩ rằng việc Keynes phân biệt giữa thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện là có ích cho sự phát triển của phân tích kinh tế vĩ mô?Về phần mình, tôi chưa bao giờ coi sự phân biệt này là có ích cả, nhưng tôi không thể nói thế cho người khác.

Khi đọc những ấn phẩm của giáo sư, rõ ràng là giáo sư rất khâm phục và kính trọng J. M. Keynes. Nếu ông ấy còn sống đến 1969 khi giải Nobel kinh tế thứ nhất được trao, giáo sư có bầu cho ông ấy không?Có.



Đối với giáo sư, việc được trao giải Nobel có phải là điều quan trọng không?Tất nhiên điều đó nâng cao giá trị của mình lắm. Tuy nhiên khi tôi được tin đó từ một nhà báo, trong một bãi đậu xe ở Detroit, và phóng viên này dí vào miệng tôi chiếc micro và hỏi: "Ông có coi giải này là đỉnh cao của sự nghiệp của mình không?" thì tôi đã trả lời: "Tôi quan tâm nhiều hơn đến điều mà 50 năm sau những người kế tục tôi nghĩ về những công trình của tôi hơn là đánh giá của bảy vị, ở Thụy Điển, phát giải Nobel". Tôi không tìm cách hạ giá ủy ban Nobel. Nhìn chung họ làm việc rất có lương tâm, nhưng điều quan trọng đối với một nhà nghiên cứu là tác động về lâu dài của những công trình của người đó trên khoa học.  

Quyển sách hay/và bài viết nào của giáo sư được giáo sư cho là quan trọng/có ảnh hưởng nhất?Tôi nghĩ rằng công trình khoa học tốt nhất của tôi là The Theory of the Consumption Function, và công trình có ảnh hưởng nhất làA Monetary History of the United States, cùng viết chung với Anna J. Schwartz.

Đâu là những mệnh đề quan trọng nhất của chủ nghĩa trọng tiền?Tôi đã liệt kê một vài mệnh đề quan trọng nhất của chủ nghĩa trọng tiền trong một bài diễn thuyết năm 1970 tại Institue of Economic Affairs - xem Friedman (1970) The Counter-Revolution in Monetary Theory, trang 22-6 (IEA Occasional Paper 33, London, Institue of Economic Affairs).

Cả cuộc đời giáo sư đã ủng hộ những tỉ giá hối đoái thả nổi. Những gì xảy ra từ sự sụp đổ của hệ thống Bretton-Woods vào đầu thập niên 1970 có xác thực cho quan điểm của giáo sư không?Có. Tất cả những toan tính lập lại một hệ thống tỉ giá hối đoái cố định đều thất bại. Đó là trường hợp của liên minh thanh toán châu Âu, con rắn châu Âu, và gần đây nhất của hệ thống tiền tệ châu Âu. Đặc biệt, nước Anh sẽ ở trong một tình thế kinh tế tốt hơn nếu không neo đồng bảng Anh vào đồng mark Đức. 

Một số nhà kinh tế, có thể là đa số, cho rằng khác biệt cơ bản giữa các nhà trọng tiền và các nhà keynesian không phải chủ yếu ở những quan niệm khác nhau về tầm quan trọng của cung tiền mà ở quan niệm về khả năng cân bằng của những lực của thị trường. Trong lúc những nhà trọng tiền tin vào những xu hướng cân bằng của những lực của thị trường thì các nhà keynesian nhấn mạnh hơn đến những khiếm khuyết có tính quyết định của thị trường đòi hỏi một sự can thiệp tích cực trên bình diện kinh tế vĩ mô. Giáo sư có đồng ý với cách trình bày này không?Tôi không chia sẻ quan niệm này. Có đủ loại nhà trọng tiền. Một số nhấn mạnh những thiếu sót của thị trường, một số khác thì không. Tất cả các nhà kinh tế - trọng tiền, keynesian và những người khác - đều thừa nhận những thiếu sót của thị trường. Tôi cho rằng điều thật sự làm các nhà kinh tế khác biệt nhau không phải là việc họ có thừa nhận những thiếu sót của thị trường hay không, nhưng là họ có coi trọng hay không những thất bại của chính phủ, đặc biệt khi chính phủ tìm cách sửa chữa điều chính phủ cho là những thiếu sót của thị trường. Khác biệt này lại xuất phát từ cách những nhà kinh tế đặt những vấn đề khác nhau trong viễn tượng thời gian nào. Riêng phần mình, tôi không nghĩ rằng tôi tin tưởng nhiều hơn nhiều nhà kinh tế khác vào những xu hướng cân bằng của những lực của thị trường, nhưng tôi ít tin hơn các nhà kinh tế khác vào khả năng của Nhà nước để bù đắp những thiếu sót của thị trường mà không làm cho mọi việc thêm tồi tệ.   

Đâu là những khác biệt quan trọng giữa chủ nghĩa trọng tiền của giáo sư và chủ nghĩa trọng tiền của những nhà cổ điển mới cũng như của các nhà kinh tế Áo?Đối với trường phái Áo, khác biệt chính là về phương pháp luận. Các nhà kinh tế Áo nghĩ rằng lí thuyết của họ là "phi tiên nghiệm", không chịu sự phủ nhận thực nghiệm. Phần tôi, tôi luôn cố gắng trình bày quan niệm của mình sao cho chúng có thể bị những sự kiện nói ngược lại. Lí thuyết của những nhà cổ điển mới là một trường hợp đặc biệt của lí thuyết định lượng về tiền tệ mà tất cả các nhà trọng tiền đều chấp nhận. Tuy nhiên, là một giả thiết về thế giới hiện thực thì lí thuyết này bị những sự kiện phủ nhận.

Một trong những hệ quả của phân tích của các nhà cổ điển mới là không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp, ngay cả trong thời kì ngắn hạn tiếp theo sự bành trướng tiền tệ được thông báo/dự kiến. Giáo sư nghĩ gì về mệnh đề liên quan đến sự bành trướng tiền tệ này?Tôi đã trả lời câu hỏi này trong câu hỏi trên. Đó là một giả thiết không được thực nghiệm xác thực là đúng.

Giáo sư đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của giả thiết những dự kiến duy lí?Giả thiết những dự kiến duy lí dựa trên những tư tưởng cơ bản đã có từ rất lâu đời. Tuy nhiên việc hình thức hoá chúng, đặt tên cho chúng đã là một điều vô cùng có ích và có một tầm quan trọng lớn lao cho việc hiểu những hiện tượng của thế giới hiện thực.

Edward C. Prescott (1940-)
Finn E. Kydland (1943-)


Giáo sư có nghĩ rằng phân tích về 
"tính tiền hậu bất nhất trong thời gian" của Kydland và Prescott đã đóng góp một cách có ý nghĩa vào luận điểm trọng tiền đặt ưu tiên cho việc tôn trọng những chuẩn hơn là những chính sách tùy nghi?Lập luận của Kydland và Prescott là quan trọng, nhưng tôi nghĩ rằng lập luận này không mang đến gì hơn cho luận điểm chủ trương việc tôn trọng những chuẩn thay vì việc sử dụng những chính sách tùy nghi. Luận điểm này đã luôn được những lập luận vững chắc bảo vệ. Lí thuyết chu kì kinh doanh thực tế sinh ra từ một phiên bản đặc biệt của kinh tế học vĩ mô cổ điển mới, đặt ưu tiên cho vai trò những "bất ngờ" [cú sốc ngoại sinh ngẫu nhiên]. Tuy nhiên, cách tiếp cận này xem rằng cung tiền tệ là nội sinh và không mang lại những giải thích chủ yếu trong phân tích của những chu kì kinh tế. Điều này có làm hại cho cách tiếp cận trọng tiền chính thống không?Lí thuyết những chu kì kinh doanh thực tế là một giả thiết được gợi ý nhằm giải thích một hiện tượng thực nghiệm. Cho tới nay, lí thuyết này không thành công lắm về mặt thực nghiệm. Trên lí thuyết, không gì biện minh cho việc xem tiền tệ là nội sinh và là không quan trọng. Những nhiễu loạn đủ kiểu tạo nên những biến động trong hoạt động kinh tế. Những biến động có thể là những biến động thực tế cũng như là những biến động tiền tệ. Không có lí do gì để cho những biến động này luôn cùng một kiểu này hơn là kiểu khác. Kinh nghiệm dường như cho thấy là những cú sốc tiền tệ xảy ra thường xuyên hơn, dù cho những cú sốc thực tế có một vai trò phụ quan trọng. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng những chứng cứ thực nghiệm rộng rãi xác nhận ý cho rằng không thể có suy sụp chủ yếu của nền kinh tế mà không có suy sụp của hệ thống tài chính.

Ý kiến của giáo sư như thế nào đối với quan niệm của trường phái Áo theo đó các giới chức tiền tệ phải ấn định một tăng trưởng tiền tệ bằng không làm mục tiêu?Đó là một mục tiêu tốt mà về phần mình, tôi cho là ưu tiên.

Trong "A Theoretical Framework for Monetary Analysis"Journal of Political Economy (1970), giáo sư kết luận bằng niềm tin là những khác biệt cơ bản giữa các nhà kinh tế nằm ở phương diện thực nghiệm hơn là lí thuyết. Trước những đóng góp quan trọng của các nhà cổ điển mới, của lí thuyết những chu kì kinh doanh thực tế, và phản ứng của các nhà keynesian mới đối với những phát triển này, giáo sư có nhân nhượng rằng có những khác biệt lí thuyết cơ bản giữa các nhà kinh tế vĩ mô không?Tôi không tin rằng có những khác biệt lí thuyết cơ bản giữa các nhà kinh tế vĩ mô. Kinh tế học của các nhà "cổ điển mới" dưới bất kì cách nào cũng không tách rời khỏi khuôn khổ lí thuyết mà tôi phác họa trong bài viết trên, và câu trả lời của các nhà keynesian mới cũng thế. Điều khác nhau là những giả thiết thực nghiệm mà họ rút ra từ cấu trúc lí thuyết này. 

Nghiên cứu thực nghiệm có phát hiện một cách rõ ràng những vấn đề nổi bật liên quan đến cuộc tranh luận kinh tế vĩ mô về vai trò của tiền tệ trong chu kì kinh tế không?Tôi nghĩ đúng là có trường hợp này. Trong cuộc tranh luận kinh tế vĩ mô đương đại gần như không còn ai cho rằng cầu tiền tệ là vô cùng co dãn, nghĩa là có một chiếc bẫy thanh khoản hay điều tương đương như thế là có một vận tốc lưu thông như một con "ma trơi" vô cùng dễ bảo, dù cho ý này một dạo đã được quyết liệt bảo vệ. Cuộc tranh luận đã chuyển sang việc có nên coi tiền tệ là quan trọng không, theo cách nào là quan trọng và đâu là những đặc tính của đường cầu tiền tệ.

Rất lí thú khi nhận thấy là giáo sư đã chọn quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp làm chủ đề của diễn văn nhận giải Nobel. Giáo sư nghĩ gì về tính chất của quan hệ này, dưới ánh sáng của kinh nghiệm của nền kinh tế Mĩ?Kinh nghiệm mới đây của nền kinh tế Mĩ hoàn toàn xác nhận ý mà tôi đã phát triển trong diễn văn nhận giải Nobel, tức là lạm phát không dự kiến tạm thời làm giảm tỉ lệ lạm phát xuống dưới mức tự nhiên của nó, nhưng một khi lạm phát được dự kiến thì rất có khả năng là thất nghiệp tăng thay vì giảm. Một cách đối xứng, giảm phát không dự kiến đi kèm với một mức thất nghiệp cao hơn mức thất nghiệp tự nhiên. Gần như chắc chắn đó là điều đã xảy ra tại Hoa Kì. Giáo sư rút ra những bài học quan trọng nào từ chính sách tiền tệ được thực thi ở Mĩ trong giai đoạn 1979-82? Có thể coi đó là một thử nghiệm trọng tiền không?Không có một thử nghiệm trọng tiền nào được triển khai trong giai đoạn 1979-82. Một tu từ học trọng tiền đi kèm những biến động của lượng tiền quan trọng hơn lúc trước. Bài học quan trọng có thể rút ra từ kinh nghiệm này đã được biết rồi: một tỉ suất tăng trưởng tiền tệ khá ngặt nghèo bẻ gãy lạm phát.

Theo giáo sư, hiện nay [1993] tỉ suất thất nghiệp tự nhiên xấp xỉ là bao nhiêu? Tỉ suất này có thay đổi một cách đáng kể từ đầu thập niên 1970 không, và nếu có đâu là những yếu tố quan trọng nhất?Tôi không có một con số ước lượng nào về tỉ suất thất nghiệp tương ứng với tỉ suất tự nhiên hiện nay ở Hoa Kì. Tôi nghĩ là tỉ suất này đã tăng kể từ đầu thập niên 1970, do những can thiệp ngày càng tăng của chính phủ vào thị trường lao động, đặc biệt những can thiệp được gọi là "trực tiếp".

Giáo sư chủ trương những chính sách nào để làm giảm tỉ suất thất nghiệp tự nhiên?Tôi thích những chính sách tự do hoá thị trường lao động. Đặc biệt tôi mong việc loại bỏ những can thiệp trực tiếp dẫn đến sự thiết lập những hạn mức việc làm và tôi ủng hộ việc loại bỏ lương tối thiểu nhằm cho phép thị trường ấn định tỉ suất lương.

Giáo sư có nghĩ rằng ủng hộ một tỉ suất tăng trưởng tiền tệ đều đặn là một thái độ chính trị không kém gì một thái độ kinh tế?Tôi thấy khó làm cách nào so sánh hai thái độ này. Tôi nghĩ rằng có những lập luận kinh tế vững chắc thuận lợi cho một tỉ suất tăng trưởng tiền tệ đều đặn, những lập luận này được suy ra từ hiểu biết hạn chế của chúng ta về quan hệ trong ngắn hạn giữa tỉ suất tăng trưởng tiền tệ và hoạt động kinh tế. Cũng có những lập luận chính trị vững chắc, vì đây là một chính sách đơn giản, dễ hiểu, và có thể kiểm tra việc các giới chức tiền tệ thực hiện nó.

Đôi lúc người ta nói rằng chính trị là "nghệ thuật thuyết phục". Có thể ứng dụng định nghĩa này vào kinh tế học không?Như là một khoa học thực chứng, kinh tế học là một toan tính khái quát hoá những quan hệ giữa các biến kinh tế nhằm rút ra những hệ quả có thể bị thực nghiệm phản bác, nhưng trong thực tế lại không bị phủ nhận. Định nghĩa này áp dụng cho mọi khoa học - vật lí học, sinh học, hay xã hội học. Cũng có một nghệ thuật kinh tế tương ứng với khả năng phân biệt trong số những khái quát hoá kinh tế những khái quát hoá nào có khả năng nhất giúp tìm hiểu một số biến cố đặc thù. Cuối cùng có một chính trị học về kinh tế có thể xem như là nghệ thuật thuyết phục công chúng nói chung hay các giới chức chính trị để theo một số chính sách đặc biệt nào đó. 

Với thời gian, chủ nghĩa trọng tiền thường được gán với những chính sách bảo thủ. Sự kết hợp được giả định này có phải là không thể nào tránh khỏi chăng?Có thể tránh khỏi. Karl Marx chấp nhận lí thuyết định lượng. Ngân hàng Trung quốc (cộng sản) là trọng tiền. Hơn nữa bản thân tôi không phải là người bảo thủ. Tôi là một người tự do trong nghĩa cổ điển hay, theo thuật ngữ Mĩ thông thường, là một "nhà tự do triệt để" (libertarian). Dù sao đi nữa, chủ nghĩa trọng tiền là một tập hợp những mệnh đề khách quan liên quan đến quan hệ giữa những đại lượng tiền tệ và những biến kinh tế khác. Dù họ là người bảo thủ, triệt để, cộng sản hay xã hội chủ nghĩa, các nhà chức trách chỉ có thể đạt được mục tiêu của họ nếu có khả năng dự báo những hệ quả của hành động của họ. Một tập hợp những mệnh đề trọng tiền đúng đắn là cần thiết cho các giới chức chính trị thuộc mọi xu hướng.    

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: La pensée économique moderne. Guide des grands courants de Keynes à nos jours, của Brian Snowdon, Howard Vane và Peter Wynarczyk, NXB Ediscience International, Paris, 1997. 

 

Đóng góp của bạn cho chuyên mục

Họ tên: Địa chỉ:
Email:
Điện thoại:
File gửi kèm(MAX 100KB):
Tiêu đề:
Nội dung: *
CAPTCHA

gỗ nhân tạo conwood,gỗ conwood,sàn gỗ ngoài trời,gỗ ngoại thất

máy phát điện,máy phát điện dân dụng, máy phát điện gia đình, máy phát điện nhập khẩu