Liên hệ
Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Yêu cầu:  
        
Phân tích - Phản biện
Có cần tiếp gói kích cầu thứ hai?

Từ đầu tháng 12 lãi suất cơ bản tăng thêm 1 điểm phần trăm. Chính phủ cũng đã quyết định dừng việc hỗ trợ lãi suất vốn vay lưu động vào cuối năm nay thay vì kéo dài đến hết quí 1 năm sau. Có lẽ vấn đề đặt ra là trong giai đoạn tới: ưu tiên cho các mục tiêu cải cách dài hạn (tập trung cho nhiệm vụ tái cơ cấu nhằm khắc phục các điểm yếu cơ cấu, giải tỏa các “nút thắt” tăng trưởng) hay là khôi phục kinh tế ngắn hạn đã có lời giải.


Câu hỏi quan trọng hiện nay là năm 2010 nền kinh tế nước ta có cần triển khai tiếp gói kích thích kinh tế, thường được gọi là gói kích cầu, thứ hai không? Để trả lời câu hỏi này, cần chú ý đến một số vấn đề sau:

Thứ nhất, giống như khi chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á 1997-1999, xu hướng suy giảm tăng trưởng và bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã bộc lộ từ trước khi cuộc khủng hoảng thực sự tác động vào nền kinh tế nước ta (xem đồ thị).

Như vậy, tình trạng khó khăn của nền kinh tế năm 2009 có căn nguyên ở sự yếu kém nội tại chứ không phải bắt nguồn chủ yếu từ tác động tiêu cực bên ngoài. Cuộc khủng hoảng lần này chỉ làm nghiêm trọng hơn tình hình vốn đã nghiêm trọng do các điểm yếu cơ cấu tồn tích bên trong gây ra.

Thứ hai, thực tế cho thấy dưới tác động mạnh của khủng hoảng, quá trình suy giảm tăng trưởng không kéo dài và không quá nghiêm trọng, sự phục hồi đến nhanh, ngay từ trước khi các gói kích cầu được triển khai trên thực tế(1) . Tính chung chín tháng đầu năm 2009, GDP đã tăng 4,6%. Có cơ sở để dự báo GDP cả năm 2009 sẽ đạt 5% hoặc hơn, tức là cao hơn mức tăng trưởng “đáy” 4,77% của năm 1999, mặc dù cuộc khủng hoảng lần này được coi là tồi tệ hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997-1999.

Như vậy, vai trò đích thực của gói kích cầu đã được triển khai là rất quan trọng nhưng không lớn đến mức như dự tính. Điều này được thể hiện rõ khi phân tích cơ cấu của gói kích cầu.

Xét theo nội dung, có thể nói gói kích cầu thứ nhất gồm bốn gói nhỏ, gồm (1) gói hỗ trợ lãi suất 4% (17.000 tỉ đồng); (2) gói hỗ trợ tiêu dùng (hỗ trợ hộ nghèo ăn Tết, mỗi hộ 1 triệu đồng; miễn thuế thu nhập cá nhân); (3) gói hỗ trợ đầu tư (giảm, miễn, hoãn thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp Việt Nam, cho nông dân vay không lãi suất để mua thiết bị, máy móc sản xuất nông nghiệp); (4) đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản (kết cấu hạ tầng, nhà ở cho sinh viên, khu chung cư cho người thu nhập thấp...).

Trong bốn gói này, gói 4 là gói lớn nhất nhưng hầu như chưa triển khai được gì do nguồn vốn không có (phát hành trái phiếu không thành công), do tính chất dài hạn của loại hình đầu tư khó phù hợp với tiêu chí kích cầu (kịp thời) trong điều kiện năng lực triển khai kích cầu của bộ máy rất có hạn.

Hai gói 2 và 3 được triển khai, ít nhiều có tác động tích cực, nhưng sức lan tỏa không mạnh. Trong số đó, có những gói cụ thể hầu như không có tác dụng, thậm chí gây phản ứng ngược (gói cho nông dân vay mua máy móc, thiết bị sản xuất nông nghiệp không tính lãi suất).

Có thể nói tác động mạnh nhất của gói kích cầu thứ nhất tập trung ở gói cho vay hỗ trợ lãi suất 4%. Tuy nhiên, xét về thực chất, đây là gói “giải cứu” chứ không phải là gói kích cầu. Gói này đã giải thoát nhiều doanh nghiệp khỏi tình trạng “ách tắc” lưu thông vốn do gánh nặng nợ xấu (nợ không trả được do lãi suất vay quá cao năm 2008). Kích hoạt nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp và ngân hàng thoát khỏi “điểm chết”, gói “kích cầu” này đã hoàn thành sứ mệnh “giải cứu” nền kinh tế.

Sự phân tích trên cho thấy trong giai đoạn vừa qua, để nền kinh tế khôi phục lại tăng trưởng, gói giải cứu đóng vai trò chính; còn các gói kích cầu đúng nghĩa chưa phát huy tác dụng bao nhiêu(2) . Nền kinh tế hầu như tự động khôi phục tăng trưởng sau khi thoát khỏi điểm “tắc nghẽn” chỉ với một số tiền vừa phải tung ra (cơ bản chưa phải là tiền kích cầu).

Thứ ba, ngân sách nước ta là ngân sách “trường kỳ thâm hụt”. Trong hàng chục năm, ngân sách nhà nước thường xuyên thâm hụt khoảng 5% GDP/năm. Cộng với hiệu quả đầu tư công thấp, tình trạng này đang khoét sâu sự yếu kém cơ cấu và tích đọng các nguy cơ mất cân đối vĩ mô.

Việc tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai đồng nghĩa với việc sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách cho năm sau, vượt qua mức “trường kỳ” vốn có. Tuy năm nay thâm hụt ngân sách ước đoán (6,5% GDP) sẽ thấp hơn đáng kể so với mức Quốc hội cho phép (8% GDP), do lượng tiền kích cầu chưa bơm ra nhiều, song không phải vì thế mà đặt vấn đề ngân sách năm 2010 được phép chi tiêu kích cầu “bù” một cách dễ dàng.

Ngay tại thời điểm hiện nay, tuy mức lạm phát được duy trì ở mức thấp, song kỳ vọng lạm phát vẫn đang gây áp lực mạnh lên lãi suất và tỷ giá hối đoái, cộng thêm vào đó là mức thâm hụt thương mại vẫn cao trong điều kiện kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh... là những yếu tố tiềm tàng gây bất ổn. Trong khi đó, những nền móng của cơ cấu kinh tế nước ta như thực tế hai năm 2007 và 2008 chỉ ra có rất nhiều điểm yếu cơ bản. Những điểm yếu này trong thời gian qua chỉ mới được bộc lộ ra rõ ràng, được xác nhận nhưng hầu như chưa được khắc phục. Nền kinh tế đang nỗ lực cho các mục tiêu “hồi sức cấp cứu”, ổn định ngắn hạn. Mục tiêu ngắn hạn đạt kết quả tích cực, song các điểm yếu cơ bản vẫn còn nguyên, thậm chí, xét tổng thể, còn có phần trầm trọng hơn.

Sự cân nhắc giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn do việc tiếp tục triển khai gói kích cầu thứ hai là rất cần thiết. Cho đến nay, các luận cứ cơ bản hầu như đều nghiêng về định hướng không tiếp tục gói kích cầu trong năm 2010. Thứ tư, nếu dừng gói kích cầu thì giải thích thế nào về các khoản đầu tư dài hạn, quy mô lớn dựa vào các nguồn vốn huy động từ việc phát hành trái phiếu chính phủ? Ở đây, cần làm rõ mấy vấn đề có tính nguyên tắc:

Một là, sứ mệnh kích cầu là giúp nền kinh tế vượt qua “điểm chết”. Đến nay, sứ mệnh đó đã hoàn thành.

Hai là, kích cầu luôn luôn là cung ứng vốn với điều kiện dễ dãi, có lợi cho người vay, thiệt hại trực tiếp cho ngân sách và đặc biệt là gây tổn hại nguyên tắc thị trường của cơ chế phân bổ nguồn lực, làm méo mó môi trường kinh doanh.

Ba là, việc ưu tiên đầu tư để giải tỏa các nút thắt tăng trưởng là cần thiết, song hoàn toàn có thể thực hiện theo các nguyên tắc thị trường công khai thay vì lạm dụng cách thức ưu tiên kích cầu.

Về nguyên tắc, trong điều kiện nền kinh tế ốm yếu về thể lực, chưa vững mạnh về cấu trúc thể chế, một khi quá trình khôi phục tăng trưởng đã xác lập được thì cần sớm chuyển sang ưu tiên khôi phục môi trường kinh doanh thị trường bình thường, củng cố thể chế hơn là tiếp tục ưu tiên mục tiêu tốc độ tăng trưởng, dù là dưới hình thức khôi phục nó.

Nói như vậy cũng có nghĩa là sang năm 2010, nền kinh tế cần chuyển hướng ưu tiên sang nhiệm vụ tái cơ cấu.


TS. Trần Đình Thiên - Viện Kinh tế Việt Nam

_____________________________

(1) Nền kinh tế chạm đáy suy giảm tăng trưởng trong quí 1-2009 (GDP tăng 3,1%), sau đó, liên tục cải thiện tốc độ ở các quí sau. Tốc độ tăng trưởng GDP quí 2 đạt 4,5% và quí 3 đạt 5,8%. Xu hướng phục hồi tăng trưởng là khá vững chắc. Các chỉ số tương ứng của giá trị sản xuất công nghiệp cũng phản ánh rõ ràng một xu thế lạc quan như vậy: 3,2%; 7,6% và 8,5%. Cũng xin lưu ý rằng ngay cả chỉ số “bi quan” nhất - kim ngạch xuất khẩu trong chín tháng đầu năm giảm 14,3% so với năm 2008 - cũng có một góc nhìn không hoàn toàn bi quan: kim ngạch giảm là do giá thế giới giảm - mà đây là yếu tố ngoài tầm kiểm soát của chúng ta; trong khi đó khối lượng xuất khẩu vẫn tăng (có lẽ một phần nhờ nỗ lực duy trì khối lượng xuất khẩu mà chúng ta giảm thiểu được đáng kể tác động tiêu cực đến việc làm và thu nhập của người lao động).

(2) Ở đây chưa xét đến vai trò của hiệu ứng tâm lý. Cách tạo niềm tin cho thị trường của Chính phủ bằng cách tuyên bố sử dụng gói kích cầu lớn, với các giải pháp mạnh để đối phó với tác động tiêu cực của khủng hoảng, quyết tâm duy trì tăng trưởng trong năm 2009 kèm theo việc tung ra một lượng tiền “thực” (tuy không nhiều như tuyên bố) quả thực có tác dụng rất tích cực. Có thể rút ra từ đây bài học về cách phối hợp sử dụng các công cụ để điều hành kinh tế vĩ mô.

Nguồn : TBKTSG
_SENDTOFRIENDGửi cho bạn bè  _PRINTNEWSIn tin này
[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Việt Nam tránh vết xe đổ của Trung Quốc để phát triển (03/12/2009)
  •  
  • Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2010: Việt Nam cắt giảm thuế và tạo điều kiện tốt hơn cho thương mại quốc tế (03/12/2009)
  •  
  • Vài cảm nghĩ về dự án nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam (03/12/2009)
  •  
  • Các chuyên gia nói gì về tỷ giá? (30/11/2009)
  •  
  • Biển Đông trong chính sách ngoại giao dầu lửa Trung Hoa (28/11/2009)
  •  
  • Cần một tỷ giá phù hợp (28/11/2009)
  •  
  • 7 đề xuất tái cơ cấu kinh tế Việt Nam (24/11/2009)
  •  
  • Vì lợi ích cục bộ của hệ thống ngân hàng hay của ai? (23/11/2009)
  •  
  • Một số quan niệm cổ điển về xã hội dân sự (23/11/2009)
  •  
  • Ôi, số liệu! (23/11/2009)
  •  
  • Cải cách kinh tế và kết quả: Một nghiên cứu so sánh Trung Quốc và Việt Nam (21/11/2009)
  •  
  • Thông tin cần cho sự đồng thuận của Quốc hội (19/11/2009)
  •  
  • Ngân hàng nhà nước nặng mô hình cơ quan hành chính (19/11/2009)
  •  
  • Minh bạch hóa: Liệu pháp cho bài toán tập đoàn (17/11/2009)
  •  
  • Tự do kinh tế hay tăng cường kiểm soát (17/11/2009)

  •   Mời bạn đọc góp ý kiến



    CAPTCHA
     Ý kiến bạn đọc

     

    ©2009 Đổi mới và Phát triển & Atlas Economic Research Foundation.

    Ghi rõ nguồn "Doimoi.org" khi phát hành lại thông tin từ website này.

    Email: info@doimoi.org

    Lượt truy cập: 1147403
     

    doimoi.org

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may chieu, May chieu, May Chieu

    may phat dien, May phat dien, May Phat Dien

    may tinh xach tay, May tinh xach tay, May Tinh Xach Tay

    may anh so,May anh so,May anh kts, May Anh So

    may cham cong, May cham cong

    san go ngoai troi, san be boi cao cap, san be boi, hang rao go, san sieu chiu nuoc