DoiMoi.org xin dịch và giới thiệu chùm bài viết của Giáo sư Andrei Lankov từ Đại học Kookmin tại Seoul. Giáo sư Lankov là một trong những chuyên gia hàng đầu về Bắc Triều Tiên. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
Hai thập kỷ cuối cùng của lịch sử Bắc Triều Tiên là một thời kỳ ấn tượng - chuyển đổi kinh tế và xã hội thường không được đánh giá đúng mức. Vào năm 1991 khi viện trợ của Liên Xô đột nhiên gián đoạn, nền kinh tế Stalin kiểu cũ gồm nhà máy thép và mỏ than bị sụp đổ, và tất cả các hoạt động kinh tế có ý nghĩa đã chuyển hướng tới thị trường tư nhân. Hệ thống phân phối thực phẩm đã ngừng hoạt động. Hệ thống Stalin kiểu cũ đã sụp đổ và chủ nghĩa tư bản mới đã bắt đầu tiếp quản.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường mới chưa bao giờ được công nhận chính thức. Nó vẫn còn là bất hợp pháp hoặc, trong điều kiện tốt nhất, là nửa hợp pháp. Có một lý do tại sao các chính quyền Bắc Triều Tiên không muốn áp dụng các phương pháp cải cách đã rất thành công tại Trung Quốc và Việt Nam. Triều Tiên là một quốc gia bị chia cắt, do đó, các tầng lớp cầm quyền Bắc Triều Tiên đối mặt với một thách thức không có ở Trung Quốc hay Việt Nam – đó là một Nam Triều Tiên giàu có và tự do.
Không giống như Trung Quốc hay Việt Nam, Bắc Triều Tiên có chung biên giới một quốc gia nói cùng một ngôn ngữ và chia sẻ chung một nền văn hóa nhưng tận hưởng một điều kiện sống cao hơn nhiều. Theo một ước tính dè dặt, bình quân tổng thu nhập quốc dân (GNI) đầu người ở miền Nam gấp 17 lần so với miền Bắc. Để so sánh tỷ lệ này, xem xét rằng, ngay trước khi thống nhất nước Đức, GNI bình quân đầu người ở Tây Đức là khoảng gấp đôi ở Đông Đức.
Trong tình hình như vậy, nới lỏng kiểm soát của chính phủ và các thông tin từ nước ngoài, trên tất cả, câu chuyện về sự thịnh vượng của Hàn Quốc – tạo một sự đe dọa nguy hiểm đến tính hợp pháp của chế độ. Đơn giản là, nếu dân số Bắc Triều Tiên biết được đất nước của họ so sánh với miền Nam thụt lùi như thế nào, có khả năng phản ứng của họ sẽ nguy hiểm tương tự như của Đông Đức năm 1989.
Vì vậy, các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên dường như tin rằng cải cách có thể sẽ dẫn đến những thay đổi chế độ từ bên dưới. Đây thực sự là có khả năng xảy ra, nên chiến lược sống còn của các tầng lớp cầm quyền của Bắc Triều Tiên thật đơn giản: tránh thay đổi và giữ cho hệ thống cũ nguyên vẹn nhất có thể. Điều này không đơn thuần có nghĩa là không cải cách nào được cho phép. Sự phát triển tự phát của chủ nghĩa tư bản, nếu không được kiểm soát, cũng tạo thành một mối đe dọa. Thị trường là mảnh đất màu mỡ cho những tin đồn nguy hiểm, và nhà điều hành thị trường tạo cuộc sống của họ độc lập với hệ thống chính thức, tự do một phần từ sự kiểm soát của nhà nước.
Vì vậy, trong năm 2005, sau khi nạn đói đã qua và tình hình kinh tế đã cải thiện nhẹ, chính phủ Bắc Triều Tiên đã quyết định rằng đây là thời điểm tốt để hạn chế kinh tế tư nhân.
Cuộc tấn công đầu tiên đối với thị trường đã được đưa ra vào tháng 10 năm 2005, khi Bình Nhưỡng thông báo rằng hệ thống phân phối sẽ được phục hồi hoàn toàn. Bán gạo trên thị trường bị cấm (mặc dù lệnh cấm đã không được thi hành). Trong tháng 11 năm 2006, quy định mới cấm đàn ông khỏe mạnh buôn bán trên các thị trường: các hoạt động như vậy chỉ dành cho phụ nữ hoặc người tàn tật. Thông điệp đã rõ ràng: người khỏe mạnh nên quay về nơi mà họ thuộc về, về các nhà máy của nền kinh tế Stalin kiểu cũ. Lệnh cấm này không có nghĩa nhiều, do đàn ông chưa bao giờ nổi bật trong các thị trường quy mô nhỏ. Tuy nhiên, vào tháng 12 năm 2007 lệnh cấm được mở rộng cho phụ nữ dưới 50 tuổi.
Những nỗ lực này phần lớn là vô ích, bởi vì thị trường đã cho thấy một khả năng chống đỡ đáng ngạc nhiên. Gần như tất cả các biện pháp phi thị trường của chính quyền đã kết thúc trong thất bại. Thông thường, một chính sách mới được thi hành trong một vài tháng sau đó lặng lẽ bị bỏ rơi. Ví dụ, lệnh cấm bán gạo tư nhân (là món hàng bán lẻ quan trọng nhất trong một nước nghèo như vậy) đã được phục hồi một số lần, mà không đạt kết quả. Lệnh cấm buôn bán trên thị trường dành cho phụ nữ trẻ khó kéo dài một vài tháng. Nó không được dỡ bỏ, chỉ đơn giản là ngừng thi hành.
Các thị trường đã trở nên quá lớn, quá mạnh và quá quan trọng để dễ dàng quản lý. Quan chức nhà nước, được xem là thuần thiết về ý thức hệ, từ lâu thôi không được coi là "bánh răng ít thép" trong cỗ máy của nhà nước. Hầu hết thu nhập của họ bây giờ phụ thuộc vào thị trường là chính. Những quy định hạn chế mới hiếm khi được thi hành cho bất cứ khoảng thời gian.
Tuy nhiên, chính quyền Bắc Triều Tiên tiếp tục đưa ra hàng năm một loạt các biện pháp hạn chế thị trường. Vào tháng 12 năm 2008 họ tuyên bố rằng các chợ chỉ được phép mở 3 ngày một tháng, tiến tới một lệnh cấm có hiệu quả. Tuy nhiên, vào phút cuối, chính quyền đã thực hiện một cú ngoạt. Vào đầu tháng 1 năm 2009 quyết định "hoãn" thực hiện và không ai nghe nói về nó một lần nữa.
Cuối cùng, vào năm 2010 chính phủ Bình Nhưỡng thực hiện phá giá tiền tệ nhằm lấy đi khoản tiền tiết kiệm của doanh nghiệp tư nhân và tịch thu một phần vốn hoạt động của họ. Điều này là hoàn toàn thất bại. Sự mất giá kích hoạt siêu lạm phát, và các nguồn cung cấp thực phẩm đã bị phá vỡ, do đó, chính quyền không có sự lựa chọn ngoài việc không thi hành lệnh cấm trước đó về hoạt động của thị trường (mặc dù các lệnh cấm không được chính thức dỡ bỏ).
Dường như ngay cả khi giới chức cứng nhắc của Bắc Triều Tiên nhận ra (ít nhất là trong chốc lát) rằng thị trường không thể bị loại trừ một cách dễ dàng. Tuy nhiên, chính quyền Bắc Triều Tiên có lý do đúng để lo ngại thị trường, và chúng ta sẽ thấy một số nỗ lực mới để quét sạch nền kinh tế thị trường tự phát. Có thể, tuy nhiên, những nỗ lực như vậy cuối cùng có thể trả giá cho các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên về quyền lực của họ, vì thị trường thường là mảnh đất màu mỡ cho cuộc cách mạng.