|
Gần đây, ngày càng nhiều người nói rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của châu Á, với việc quyền lực tất yếu chuyển từ phương Tây sang thực thể rộng lớn, và đối với nhiều người phương Tây vẫn còn mơ hồ, mang tên châu Á.
Nếu đúng như vậy, và có nhiều cơ sở để tin vào điều này, thì chúng ta cần làm rõ "châu Á" thực sự là gì. Xin giới thiệu bài viết 2 kỳ về vấn đề này trên tạp chí American Interest của Mỹ số ra tháng 5/2010.
Châu Á theo chiều dọc và gắn với biển
Ngôn ngữ địa lý không thay đổi các đường ranh giới trên bản đồ, nhưng nó đã làm thay đổi các khái niệm và từ đó thay đổi cách ứng xử. Nghĩa của từ "châu Á" đã thay đổi cùng với các bối cảnh lịch sử và các tình huống của nó. Trong thời hoàng kim của chủ nghĩa đế quốc phương Tây, "châu Á" bao gồm toàn bộ khu vực từ kênh Suez đến Thượng Hải, với hàm ý là những phần lãnh thổ sẵn sàng cho hải quân phương Tây và các chuyến tàu thương mại sử dụng. Nhưng đến nửa sau thế kỷ 20, một loạt các sự kiện - chiến tranh ở Thái Bình Dương, sự nổi lên của Cộng sản ở Trung Quốc, Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, sự nổi lên của nền kinh tế Nhật Bản và các con Hổ châu Á (Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore) - tất cả đã thay đổi cái mà người ta gọi là "châu Á" trước đó và nhấn mạnh đến tầm quan trọng ngày càng lớn hơn của châu lục này.
Vì nhiều mục đích, "châu Á" khi đó có nghĩa là khu vực ven biển và hải đảo kéo dài từ CHDCND Triều Tiên đến Indonesia. Việc tương tác chiến lược quan trọng của phương Tây với châu lục này chủ yếu thông qua sức mạnh hải quân Mỹ đã củng cố khái niệm theo chiều thẳng đứng và gắn với biển này về châu Á. Các nỗ lực hội nhập khu vực cuối thế kỷ 20 là một minh chứng. Khái niệm mang tính địa chiến lược về một "châu Á - Thái Bình Dương" đã để lại một số "di sản": cơ chế ưu việt về kinh tế và chính trị của châu Á, APEC, bao gồm cả Chile nhưng không có Ấn Độ, cả Mexico nhưng không có Mông Cổ.
Ý tưởng về châu Á theo chiều dọc đến nay đã cho thấy những lợi ích của nó, song thay vì làm sáng tỏ hơn khái niệm về châu Á, nó lại khiến khái niệm này trở nên mù mờ hơn. Robert D.Kaplan thấy sự trở lại của một ý tưởng châu Á là "một châu lục được định dạng trong một tổng thể hữu cơ", nhấn mạnh đến sự liên kết Đông - Tây của nó. Chuyên gia bình luận chiến lược hàng đầu của Ấn Độ, ông C. Raja Mohan, cũng nhắc tới một chính sách đối ngoại của Ấn Độ theo đó, nhìn châu Á trong khái niệm một châu lục tổng thể.
Dù các ý tưởng này cũng được chấp nhận rộng rãi, nhưng nó cũng chỉ có một nửa sự thật. Có thể cách hiểu phổ rộng nhất về chủ đề tái định hướng chiến lược của châu Á là tập trung vào Ấn Độ Dương. Kaplan gợi ra một sự cạnh tranh ở đây giữa các hạm đội hải quân của hai cường quốc mới nổi ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ. James Holmes và Toshi Yoshihara lập luận rằng sức mạnh hải quân ngày càng lớn của Trung Quốc báo trước rằng lời tiên đoán nổi tiếng về "chuỗi ngọc" đang thúc đẩy Trung Quốc tạo ra một chiếc vòng ngọc tại Ấn Độ Dương.
Châu Á theo chiều ngang và gắn với đất liền
Nhưng cách hiểu tập trung vào sức mạnh hải quân như vậy đã bỏ qua ý nghĩa ngày càng lớn về lãnh thổ châu Á rộng lớn. Nếu sự "qua mặt" Mỹ của Nhật Bản và các con Hổ châu Á, cũng như của tất cả các quốc gia duyên hải và hải đảo, đã khẳng định cách nhận dạng theo chiều dọc và duyên hải về châu Á, thì sự nổi lên của các nước lớn trong đất liền - Trung Quốc và Ấn Độ - cũng như vị trí và quyền lực của Nga, chắc chắn đang định dạng lại châu Á theo chiều ngang và mang tính lục địa hơn. Điều này sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với phương Tây. Tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ và Nga sẽ ngày càng lớn ở vùng Vịnh và Trung Á; và phần châu Á - biển nhỏ bé hiển nhiên sẽ để cho sức mạnh hải quân phương Tây bảo vệ.
Điều này khiến chúng ta thấy cần phải đọc thêm một chút Mahan và một chút Mackinder khi tiếp tục nghiên cứu trong nửa thế kỷ tới và lâu hơn nữa. Thách thức về khái niệm đối với phương Tây là phải xác định "châu Á" vượt ra ngoài những vùng duyên hải, các đảo và quần đảo quen thuộc, để nhìn thấy toàn bộ châu lục này trong một tổng thể của nó. Để làm vậy, chúng ta phải nắm được các xu hướng kinh tế, năng lượng và hạ tầng liên quan đang nổi lên trước mắt chúng ta.
Thương mại, năng lượng và hạ tầng cơ sở
Trong một phần lớn thế kỷ 20, các trao đổi kinh tế, hay nói đúng hơn là việc thiếu các trao đổi này, đã làm châu Á bị tách biệt khỏi thế giới. Liên Xô, Ấn Độ và Trung Quốc đã tỏ ra ít quan tâm tới thương mại quốc tế. Cuối những năm 1990, trao đổi thương mại chính thức giữa Ấn Độ và Trung Quốc là không đáng kể, chỉ đạt 190 triệu USD. Vào năm 1978, Trung Quốc, với dân số chiếm 22,4% dân số thế giới, chỉ chiếm 0,8% xuất khẩu của thế giới (hiện giờ các con số này lần lượt là 19,7% và 9%). Từ đầu những năm 1990 trở về trước, lượng hàng hóa khổng lồ của thương mại viễn Đông của Nga vẫn chỉ được trao đổi trong biên giới nước này. Nhìn chung, cả ba nước này có đủ các nguồn lực cần thiết để đáp ứng các nền kinh tế kế hoạch hóa của mình. Hậu quả là làm tê liệt mọi hoạt động hội nhập kinh tế xuyên châu lục.
Tất cả những điều đó đã thay đổi khi châu Á trở lại gốc rễ địa chiến lược của mình bằng các mạng lưới kinh tế. Các quyết định của Bắc Kinh (trong những năm 1970) và New Delhi (những năm 1990), nhằm cắt đứt với chủ chương tự cấp tự túc của Mao Trạch Đông và Nehruv, đã giải phóng các lực lượng thị trường bị gông cùm từ lâu ở châu Á. Theo các con số thống kê của Trung Quốc, nước này hiện giờ là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, với kim ngạch trao đổi song phương đạt 51,8 tỷ USD năm 2008. Con số này nhiều hơn 30% so với năm 2007, và hơn 40% so với trao đổi giữa Ấn Độ với đối tác thương mại lớn thứ hai là Mỹ.
Quy mô của sự thay đổi này đã vượt ra khỏi câu chuyện giữa Trung Quốc - Ấn Độ. Theo các số liệu của IMF, trong những năm 1990 - 2006, trao đổi nội khu vực bao gồm "châu Á mới nổi" đã tăng gấp 5 lần; trong cùng thời kỳ, trao đổi giữa các nước châu Á với nhau tăng 8,5%. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa phản ánh toàn bộ thực tế, bởi IMF không tính Nga, Trung Á hay các nước vùng Vịnh vào thương mại nội châu Á. Từ năm 1992 - 2007, xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc tăng 6 lần và nhập khẩu tăng 15 lần.
Cùng thời gian này, nhập khẩu hằng năm của Trung Quốc từ các nước Trung Á đã tăng từ một con số rất nhỏ là 160 triệu USD lên tới gần 7 tỷ. Từ năm 1990 - 2007, nhập khẩu của Trung Quốc và Ấn Độ từ các nước vùng Vịnh tăng lần lượt từ 500 triệu USD và 4 tỷ USD lên tới 44 tỷ và 13 tỷ USD. Trong khi đó, xuất khẩu của Trung Quốc và Ấn Độ sang vùng Vịnh tăng từ khoảng 1 tỷ mỗi nước lên tới 35 tỷ (Trung Quốc) và 20 tỷ (Ấn Độ). Trung Quốc hiện là nhà xuất khẩu đơn lẻ lớn nhất ở Trung Đông.
Các con số trao đổi song phương cũng có ý nghĩa. Israel là nguồn cung cấp vũ khí từ bên ngoài lớn thứ ba cho Ấn Độ (và quan trọng nhất về mặt công nghệ), còn Arập Xêút trở thành nhà cung cấp dầu thô lớn nhất và thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Ấn Độ. Năm 2009, khoảng 62 công ty xây dựng của Trung Quốc làm việc tại vương quốc vùng Vịnh này, sử dụng hơn 16.000 nhân công Trung Quốc, trong khi công ty dầu khí quốc gia Arập Xêút ARAMCO, cùng Exxon Mobil và Sinopec đã hoàn thành dự án lọc dầu trị giá 5 tỷ USD ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Năm 1990, bốn trong năm thị trường xuất khẩu lớn nhất của Iran là các nước châu Âu, nhưng đến năm 2008, bốn trong số này là các nước châu Á.
Năng lượng là một nhân tố chìa khóa thắt chặt các quan hệ kinh tế ở châu Á. Trung Quốc và Ấn Độ đã cùng với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ của vùng Vịnh, nơi hiện cung cấp 70 - 80% nhu cầu nhập khẩu của châu Á. Các nguồn năng lượng ở Trung Á và vùng viễn Đông Nga cũng trở thành các yếu tố ngày càng quan trọng trong mạng lưới năng lượng xuyên châu lục. Đặc biệt, Nga đang hướng tới các khu vực chưa phát huy được tiềm năng này ở Siberia để duy trì gia tăng thu ngân sách nhờ năng lượng trong tương lai.
Sự bấp bênh về năng lượng và tài nguyên đã trở thành nguồn cơn gây ra cạnh tranh quyền lực ở châu Á. Đặc biệt, ngoại giao năng lượng tích cực của Trung Quốc đã khiến các cường quốc châu Á khác noi gương. Chiến lược năng lượng quốc gia năm 2006 của Nhật Bản đặt mục tiêu đến năm 2030, 40% lượng dầu nhập khẩu phải do các công ty của Nhật Bản tiến hành khai thác. (Hiện, nguồn cung dầu do các công ty của Nhật Bản khai thác ở nước ngoài, gọi là "Hinomaru", đã đáp ứng khoảng 15% nhu cầu về dầu trong nước). Vì vậy, Tokyo đã phát động các sáng kiến ngoại giao năng lượng mới như "đối thoại Trung Á cộng Nhật Bản". Nga rất hài lòng khi cả Trung Quốc và Ấn Độ tìm cách tiếp cận với các nguồn cung cấp năng lượng của mình.
Các xu hướng năng lượng này cũng đã kéo theo những căng thẳng trong quan hệ giữa Nhật Bản với Mỹ. Nhật Bản từ lâu dựa vào sức mạnh của Mỹ để đảm bảo an ninh cho các nguồn cung dầu mỏ của mình, cộng với các khoản viện trợ hào phóng của họ cho Trung Đông. Nhưng quan hệ đồng minh Tokyo - Washington đứng trước nguy cơ khi Nhật Bản nỗ lực giành quyền khai thác các mỏ dầu ở miền Nam Azadegan của Iran, một dự án có thể tăng nguồn cung Hinomaru lên 60%. Sợ Mỹ phật ý, Nhật đã rút chân, và Iran hoãn dự án này, để cho Trung Quốc, Nga và Ấn Độ tranh quyền khai thác. Trung Quốc đã thắng. Thương vụ Azadegan là một góc nhỏ của một hiện tượng lớn hơn: năm 1990, Nhật Bản là nước châu Á duy nhất trong số 5 thị trường xuất khẩu của Iran, nhưng đến năm 2008, bên cạnh đất nước Mặt trời mọc còn có Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc nằm trong tốp 5 này.
Sự cạnh tranh giữa các cường quốc châu Á về năng lượng và nguồn tài nguyên thiên nhiên không chỉ diễn ra ở Tây Á. Còn có một cuộc cạnh tranh khác ở vùng biển của châu lục này. Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh hải quân và tìm cách tiếp cận với các hạ tầng cảng biển ở Ấn Độ Dương nhằm bù lại tính dễ bị tổn thương của các tuyến đường vận chuyển hàng hóa của mình trên biển từ vùng Vịnh Persic. Điều này gây ra tình trạng bất an toàn nhưng cũng tạo ra các dạng hợp tác an ninh mới ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Ấn Độ gần đây đã thay thế Trung Quốc trở thành nước nhận viện trợ nhiều nhất của Nhật Bản, đồng thời là nước thứ hai (sau Australia) ký tuyên bố chung về hợp tác an ninh với Nhật Bản. Chính phủ mới ở Nhật dường như, nếu không có gì thay đổi, đang thúc đẩy mục tiêu hướng tới một chính sách ngoại giao và an ninh độc lập. Ít khả năng một chính phủ Nhật Bản như hiện nay sẽ hoãn thương vụ mỏ dầu ở Azadegan chỉ vì Mỹ, như chính phủ tiền nhiệm từng làm.
Các quan hệ kinh tế và năng lượng ngày càng thắt chặt ở châu Á đang bị tác động và được củng cố trong một mạng lưới ngày càng mở rộng gồm đường sắt, đường bộ và các loại đường ống dẫn - được gọi là cơ sở hạ tầng vật chất của châu Á theo chiều ngang. 7.000 km đường ống dẫn nối các mỏ khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn của Turkmenistan tới Trung Quốc qua Kazakhstan và Uzbekistan đã được khai trương vào tháng 12/2009. Công ty Daewoo quốc tế của Hàn Quốc đứng đầu một siêu tập đoàn liên danh với các tập đoàn của Ấn Độ và Myanmar xây dựng một dự án LNG trị giá 5,6 tỷ USD và đường ống này sẽ cung cấp gần 600 triệu mét khối khí mỗi ngày từ miền Tây Myanmar tới miền Tây Trung Quốc vào năm 2013. Hồi tháng 2/2009, Nga và Trung Quốc đã nhất trí đầu tư 25 tỷ USD trong hai năm cho một đường ống dẫn dầu từ Nga sang Trung Quốc.
Các đường ống từ vùng Vịnh tới các nhà tiêu dùng năng lượng của châu Á cũng sắp hoàn thành. Đường ống dẫn khí đốt Iran - Pakistan - Ấn Độ được bàn thảo từ lâu nay có thể không bao giờ được xây dựng, nhưng đoạn từ Iran tới Pakistan đang được xây dựng, tạo ra một điểm khởi đầu, cho một phần đuôi có thể ở Trung Quốc thay vì ở Ấn Độ. Sự do dự của Trung Quốc trong việc tài trợ cho một đường ống đi qua tỉnh Baluchistan bất ổn của Pakistan đến cảng Gwadar trong năm 2009 có thể sẽ không kéo dài, tạo cơ hội để dự án này rút ngắn đáng kể chiều dài so với các đường ống qua biển của Trung Quốc nối từ Vịnh Persic.
Tác động của mạng lưới đường xá và đường ống nước trong đất liền có thể còn lớn hơn cả các đường ống. Năm 2006, thực hiện một tham vọng suốt nhiều thế kỷ qua, Trung Quốc đã hoàn thành tuyến đường sắt tới Lhasa ở Tây Tạng. Như một phần kế hoạch biến Tây Tạng thành một trung tâm thương mại Trung Quốc - Nam Á, Bắc Kinh đang tìm cách mở rộng mạng lưới tới Ấn Độ, Nepal, Bhutan và Bangladesh. Năm 2002, các kỹ sư dân sự đã nối mạng lưới đường ở Myamar tới một khu phức hợp cao tốc chính ở Trung Quốc, mạng lưới này nối trực tiếp thành phố Thượng Hải bằng đường bộ với Irrawaddy Delta của Myanmar. Nhiều kế hoạch cũng đang được thực thi nhằm nối đường cao tốc này với một cảng nước sâu mới ở Ấn Độ Dương do Trung Quốc tài trợ tại Kyaukpyu của Myanmar.
Trong khi đó, Ấn Độ đang tiến hành nhiều dự án đường cao tốc ở tỉnh biên giới Sikkim của mình như cách để giúp tỉnh nghèo khó này "bật lên". Ấn Độ mới đây đã hoàn thành một dự án đường bộ lớn ở Afghanistan nối phần miền Nam nước này với cảng chủ chốt của Iran tại Chabahar. Con đường này, cộng với các mạng lưới đường xá ngày càng dày đặc nối Ấn Độ với Myanmar, đang dần trở thành huyết mạch giao thông quan trọng trong đất liền dẫn vào trong lòng Đông Nam Á.
(Còn tiếp)
Quốc Thái dịch từ tạp chí American Interest của Mỹ số ra tháng 5/2010
|